"12 Nhân Duyên nó là mắt xích quá trình dẫn đến đau khổ nhân quả luân hồi của ta. Muốn hiểu 12 Nhân Duyên này thì mình phải hiểu rõ về Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Rồi khi mình thông suốt về Tứ Diệu Đế, mình hiểu được Đạo đế, Bát Chánh Đạo thì mình mới hành đúng Giới – Định – Tuệ. Giới – Định – Tuệ là phần để mình hành trì tu tập để mình không còn tạo nhân quả luân hồi sinh tử nữa."
Thầy giúp quý sư và phật tử hiểu về 12 Nhân Duyên. Trong 12 Nhân
Duyên này nó có 12 mắt xích tạo ra quá trình duyên hợp nhân quả cho cái thân tứ
đại này của chúng ta. Trong Tứ Diệu Đế đức Phật chỉ cho mình rõ mắt xích của 12
Nhân Duyên. Chúng ta muốn hiểu biết về 12 Nhân duyên thì mình phải học về Tứ Diệu
Đế. Tứ Diệu Đế có 4 phần: Khổ Đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế – đạo đế chỉ cho Bát Chánh
Đạo.
Trong Tứ Diệu Đế, 2 phần đầu tiên Phật chỉ cho mình thấy được
Khổ đế và Tập đế. Khổ là cái quả. Tập đế là hành động tạo ra cái quả.
Ví dụ khi mình sân lên, cái đó gọi là Tập đế. Khi mình sân
lên mình nói những lời nói xúc phạm người khác, mắng chửi, chê bài, hù dọa, hoặc
đánh đập, v.v… Khi mình làm cái hành động xấu đó, làm cho người kia khổ, đó là
Khổ đế. Cái Khổ đế này Phật gọi là “oán tắng hội khổ”.
Nếu trong tâm chúng ta còn các hành động nghiệp tham, sân,
si thì nó tạo ra quả khổ xung quanh mình. Nếu mình còn cái tâm sân, thế nào nó
cũng gây đau khổ cho mọi người xung quanh mình.
Cho nên khi Đức Phật nói về Khổ đế và Tập đế, nếu mình còn 2 cái hành khổ
này thì nó dẫn đến cái quả khổ cho ta là như vậy. Sở dĩ mình tạo ra quả khổ
xung quanh mình và mình hành động cái điều bất thiện, sân hận, buồn phiền, chán
nản trong tâm mình là nó bắt nguồn từ Vô Minh. Ở đây chúng ta phải hiểu cái mắt
xích tại sao mình tạo ra cái quả khổ đó, tại sao mình hành động cái quả khổ đó,
thì nó bắt nguồn từ Vô Minh.
Trong 12 Nhân Duyên đức Phật dùng từ “do có duyên Vô Minh mà dẫn đến
duyên Hành”. Duyên hành gồm 3 hành động của ta: thân hành,
khẩu hành và ý hành. 3 hành động nghiệp này nó tạo ra nghiệp và nhân quả.
Khi mình giận ai, mình nói những lời nói thô lỗ, cộc cằn, hù dọa làm cho người
nghe họ đau khổ. Cái đó gọi là hành. Một người sân lên, la mắng tục tĩu, khóc
than; nó tạo ra môi trường xung quanh ta là gì? Là cái sự bất an cho mọi người
xung quanh mình. Cái đó Phật gọi là hành. Cái hành này nó dẫn đến cái nghiệp khổ
cho mình và mọi người xung quanh mình. Vì vậy trong 12 Nhân Duyên Phật nói do có
duyên Hành mà nó có duyên Thức là như vậy. Duyên thức là gì? Là chỉ cho cái
thức khổ vui của ta. Cái thức khổ vui này nó tác động đến 6 thức của
mình: nhãn thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Trên 6 thức này nếu
nó còn nghiệp tham, sân, si thì nó tạo ra thế giới khổ vui của nó.
Thí dụ cái tâm của mình nó còn tham, nó ưa thích người này đối
xử tốt với mình, khen mình. Trong lòng mình nó còn cái chấp muốn người này khen
mình, chỉ nói những lời nói tốt đẹp về mình hoặc là người này phải biết quan
tâm mình. Còn nếu người kia không quan tâm thì trong lòng mình nó tủi thân. Nếu
không có ai quan tâm mình: không có chồng quan tâm, không có vợ quan tâm, không
có con quan tâm, không có cha mẹ quan tâm, không có anh chị em để ý quan tâm
mình... nhiều khi nó cũng buồn, nó tủi, nó hờn, nó giận, nó trách. Đó là tiến
trình dẫn đến các hành động khổ của ta là như vậy.
Mà tại sao mình tủi, mình hờn,
mình giận, mình trách, nó bắt nguồn từ đâu? Nó bắt nguồn từ nghiệp của ta. Mà
cái nghiệp này là tham, sân, si. Trong đó có nghiệp tham. Tham là
tham muốn. Có 5 cái tham muốn căn bản nhất mà ai cũng phải gặp trường hợp
này. Phật dùng từ là sắc, thinh, hương, vị, xúc. Hoặc
trong kinh Phật dùng từ 5 món dục trưởng dưỡng: sắc, thinh, hương, vị,
xúc. Ai mà hưởng cái hạnh phúc 5 món dục trưởng dưỡng này thì nó tương
đương cõi trời dục giới.
Nói về tam giới – 3 cõi: cõi trời Dục giới, cõi trời Sắc
giới và cõi trời Vô sắc giới (Tham khảo thêm: https://lambanvoithien.blogspot.com/2020/06/vuot-qua-tam-gioi.html). Trong đó có cõi dục giới. Cõi dục giới
là gì? Mình hưởng thụ về cõi dục. Mà cõi dục này có 5 món dục trưởng
dưỡng căn bản gồm có sắc, thinh, hương, vị, xúc. Mà sau này nó còn có nghĩa khác là danh, lợi, sắc, thực, thùy. Thì cái này
nó đều là cõi trời dục giới cả. Nếu mình ưa thích người này khen mình, lúc nào
cũng muốn người này đối xử tốt với tôi, chăm sóc tôi, hỏi han tôi, hãy nói những
lời nói tốt đẹp đến tôi. Nếu trong ý thức mình nó còn chấp
thủ, vướng mắc cái muốn này thì trong đó gọi là nó còn dục giới. Nếu
mình được người này thực hiện đúng như vậy, lúc nào cũng được người này quan
tâm, yêu thương, chăm sóc đến mình, rồi mình thỏa mãn cái điều đó, mình tham chấp
cái điều đó thì nó được hưởng cái hạnh phúc người ta đối xử tốt với mình.
Lúc mình hạnh phúc trước cái điều người ta đối xử tốt với
mình, mình vui thích, mình ưa thích cái cảm xúc đó, cái trạng thái tâm thức đó
gọi là dục giới. Nó là cõi dục đó. Mà trong 12 Nhân Duyên Phật gọi là duyên Thức. Do có duyên Hành mà có duyên Thức. Duyên hành nó gồm có 3 phần
thân hành, khẩu hành và ý hành, trong đó có ý hành. Ý hành mình là gì, nó chấp,
nó mong người này phải thương tôi, phải quan tâm tôi phải chăm sóc tôi. Nó có
cái dục muốn đó, nó còn cái hành động muốn đó, mà nó tạo ra khổ vui nơi cái thức
này. Do cái ý mình nó còn cái hành động mong muốn người này phải thương tôi, phải
lo lắng chăm sóc tôi, quan tâm nghĩ đến tôi. Do nó có ý hành dục muốn đó, nếu
người này họ làm đúng như vậy thì cái thức này nó vui lắm, nó cảm giác hạnh
phúc tràn ngập. Và khi mình hưởng hạnh phúc từ sự tốt
đẹp của người khác, cái trạng thái tâm thức đó Phật gọi là Dục Giới.
Mình đang sống trong cõi trời dục giới. Như vậy rằng người này đang luân hồi
vào cõi trời dục giới.
Người nào còn sống trong cõi trời dục giới là người này vẫn
còn trói buộc nhân quả luân hồi. Mà sở dĩ cái sự trói buộc nhân quả luân hồi
trong cõi dục giới này nó bắt nguồn từ Vô Minh. Vì vậy Phật nói rằng
do
có duyên Vô Minh mà có duyên Hành. Vô Minh, đức Phật chỉ cho người này
không biết được Khổ, Nguyên Nhân của Khổ, Diệt Khổ và Con đường hướng đến diệt
khổ. Trong đó đức Phật dạy cho mình thấy được Khổ và Nguyên Nhân của Khổ.
Trong các hành động nào tạo ra
khổ - vui, nó đều dẫn đến khổ hết, nó đều có mầm mống của cái khổ của nó. Ví dụ, mình được chồng,
vợ thương mình, con sống có hiếu với mình, mình hưởng được cái hành phúc này.
Nhưng mình có biết được rằng cái hạnh phúc này nó mãi không? Không đâu. Chúng
ta thấy có những người vợ, người chồng, người con sống đạo đức, sống có hiếu lắm
nhưng cái duyên nhân quả của người này lại ngắn quá. Vợ chồng mình đang sống hạnh
phúc như vậy, các con mình nó sống tốt như vậy, tự nhiên hết duyên họ ra đi, họ
không còn sống với mình nữa, coi như họ mất đi đó. Trước cái sự mất mát này,
tâm trạng của người còn sống là sao? Lúc này cái tâm trạng cái người còn sống
đó, trước đây họ hưởng hạnh phúc, tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc của chồng,
của vợ, của con, bây giờ người này mất rồi, coi như họ không còn cái điều đó. Từ
đó nó dẫn đến khổ não.
Cho nên trong 12 Nhân Duyên, do có duyên Xúc mà có duyên Thọ.
Xúc là tiếp xúc với nhau. Vợ chồng, con cái, cha mẹ tiếp
xúc với nhau, tạo ra thế giới hạnh phúc, tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc.
Từ đó nó có duyên Thọ là hạnh phúc. Do có duyên Thọ mà có duyên Ái.
Cho nên Phật nói do có duyên Thọ mà có duyên Ái. Ái ở đây
là sự giàng buộc, trói buộc, tình cảm giữa vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh chị
em. Sống với nhau thì hạnh phúc, xa nhau thì nhớ nhung, đau khổ. Cái này Phật gọi là Ái – sợi dây trói buộc. Mình có cái hạnh phúc gì,
lâu dần nó tạo thành sợi dây trói buộc, gọi là Ái.
Thí dụ người mà suốt ngày hút thuốc uống rượu, nó tạo ra cảm
giác thích thú. Lâu dần nó tạo thói quen khó bỏ. Cái đó gọi là nghiện: nghiện
rượu, nghiện thuốc lá. Khi nghiện rồi người này bỏ được không? Không bỏ được.
Trong lòng cứ nhớ nhung thèm thuồng cái cảm xúc đó. Cái đó gọi là ái. Do có
duyên Thọ, là hưởng cảm giác ưa thích thuốc lá hoặc rượu bia, mà nó dẫn đến Ái
là như vậy.
Nếu chúng ta có thói quen gì về hạnh
phúc mà mình chấp nó thì nó cũng dẫn đến duyên Ái là như vậy. Thí dụ
mình sống với vợ, với chồng, với con, với cha mẹ mà mình hưởng cái hạnh phúc
này thì lâu dần nó cũng tạo thành Ái.
Khi nó thành Ái rồi thì nó chấp giữ trong lòng mình, mình không muốn
người này xa mình, bỏ mình. Cái đó gọi là Thủ. Cũng giống như người nghiện
thuốc rồi, bây giờ bỏ không được. Lúc nào trong người cũng có thuốc, lúc nào
cũng tích lũy thuốc. Cái đó gọi là thủ.
Thủ là chấp giữ cái hạnh phúc đã
được rồi, nó ưa thích cái cảm giác đã được rồi. Do có Thủ mà nó có Hữu – Hữu là sở hữu đó. Ví dụ mình có người
chồng tốt, người vợ tốt. Hàng ngày mình chấp giữ, mình sở hữu được người chồng
tốt, người vợ tốt, người con tốt, v.v… Cái đó gọi là Hữu – Hữu là mình sở hữu,
mình gìn giữ cái vật đó, cái tài sản đó, cái tình cảm đó, cái sự yêu thương đó.
Do có duyên Hữu, nó có duyên Sanh. Duyên sanh là sự sống
của ta, môi trường sống của ta. Mình sống bên nhau là hạnh phúc, còn không được
sống bên nhau là không hạnh phúc. Duyên sinh là như vậy. Mình có duyên sinh, môi
trường sống của mình. Vợ chồng sống
biết chăm sóc lẫn nhau, bảo vệ
lẫn nhau; cha mẹ nuôi dưỡng
con cái lớn khôn; hoặc sau
này con cái lo lắng cho cha mẹ mình, có hiếu với cha mẹ mình. Đó là môi trường sống tương quan, giàng buộc giữa
vợ chồng, con cái, cha mẹ tạo
nên sự sống hạnh phúc hoặc khổ đau, gọi là duyên sanh. Do có thủ, mình chấp
thủ gia đình của mình, mình sở hữu, từ đó mình có cuộc sống hạnh phúc bên gia
đình của mình, gọi là duyên Sanh.
Do có duyên Sanh mà dẫn đến Lão tử. Nghĩa là
chúng ta sống với nhau có ai mà trẻ mãi đâu, có ai mà sống mãi đâu, có ai mà
trường thọ bất tử không? Không có được. Cho nên theo quy luật Vô thường,
đức Phật dạy chúng ta là thành, trụ, hoại, không. Cái gì nó thành thì nó sẽ hoại, nó không có tồn tại. Lúc mình mới
sinh ra mình còn nhỏ còn bé, theo năm tháng mình lớn lên, thành thiếu niên, trung niên, rồi đến cái tuổi già 50-60 tuổi, 70-80 tuổi, 90 tuổi, 100 tuổi, sự sống nó càng lúc càng ngắn lại. Cho nên Phật nói: “Già nua lại
đến nơi, nó không chịu dừng bước.” Cái tuổi già mình nó cứ tiếp tục già, sự sống
mình ngắn lại. Cho nên môi trường sống, gia đình vợ chồng con cái, sự sống của ta, thân mạng của ta nó cũng sẽ đến lúc nó lão tử, đến lúc rồi
nó cũng phải già chết, gọi là lão tử. Ông bà mình đã chết mất rồi, đến cha mẹ
mình dần dần cũng chết, rồi mai mốt mình cũng chết và con cháu mình sau này
cũng chết. Cái đó Phật gọi là lão tử. Do có duyên sinh mà có duyên lão tử.
Khi mình sống với
môi trường sống gia đình, cha
mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, mình hưởng cái nhân quả tốt đó, nhưng
đâu có ai sống mãi bên ta đâu. Rồi đến lúc cái duyên này nó tan thì cũng sẽ có
người mất. Khi người thân mình mất thì dẫn đến sầu, bi, khổ,
ưu, não. Tiến trình nhân quả cái thân tứ đại này,
sự sống con người cuối cùng dẫn đến
sầu, bi, khổ, ưu, não mà thôi. Nếu tâm mình chưa có bất động, chưa có thanh tịnh, chưa có chấm dứt phiên não, tham sân si mạn nghi thì khi mình chứng kiến người thân mình mất, mình có an lòng được không? Không an lòng được. Đến đây mình bất an lắm,
mình cũng khổ lắm. Chúng
ta nhớ cái sự kiện là lúc đức Phật chuẩn bị nhập Niết bàn, Ngài nói với Anan: “Ba tháng sau ta nhập diệt.” Ngài Anan nghe đức Phật nói như vậy
thì trong lòng cảm thấy hụt hẫng.
Lý do là kể từ
khi xuất gia, ngài Anan làm
thị giả ở bên Phật, cho nên
ngài không có thời gian để tu
tập riêng cho mình, để ngài
nhiếp phục tất cả các phiền não, để ngài chứng được quả bất động tâm – quả vô lậu Alahan. Ai mà chứng được
cái tâm bất động này mới gọi là bậc Alahan. Bậc Alahan là cái cảm xúc khổ lạc, những nhân quả ở
đời nó không còn chi phối tác động được. Cái trạng thái tâm thức đó Phật ví giống như đá tảng kiên cố vững chắc, không có gió nào lay động được. Cái tâm của bậc Alahan vô lậu, cái tâm của ngài nó vững chắc như đá tảng, dù có chuyện xấu chuyện mất mát
nào xảy ra nhưng lòng ngài luôn bất động, bình an, không dao động, không có cảm
xúc khổ lạc trên trạng thái tâm thức đó. Cái trạng thái tâm đó phật gọi là bất
khổ, bất lạc. Chỉ có bậc chứng được thiền
chứng thứ 4, các ngài mới an trú vào trạng thái
đó: xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh, diệt trừ hỉ ưu và cảm thọ trước. Nghĩa
là các bậc Alahan vô lậu các ngài chứng được cái tâm bất động thì trên trạng
thái bất động đó nó không còn có khổ lạc, nghĩa là nó xả lạc, xả khổ, nó dứt trừ cảm xúc khổ lạc này. Còn nếu chúng ta còn cảm xúc khổ lạc thì
trạng thái đó chưa phải là bất động vô lậu Alahan.
Trường hợp như
ngài Anan, khi nghe đức Phật tuyên bố 3 tháng sau Ngài nhập diệt, mất, không còn sống nữa, khi ngài Anan nghe nói như vậy thì trong lòng còn cảm
xúc khổ. Khi còn sống bên Phật thì Ngài hạnh phúc bên Phật và bây giờ nghe đức
Phật chuẩn bị mất thì Ngài
sinh cái trạng thái buồn khổ. Đó là thọ khổ. Mặc dù ngài có cảm thọ khổ đó,
nhưng do ngài có trí tuệ, ngài cũng phải kham nhẫn vượt qua sự mất mát này, chứ ngài không có bi lụy mặc dù cũng có
khổ đó.
Chúng ta nên nhớ
khi mình chưa chứng được cái Diệt đế - bất động tâm, trạng thái vô lậu Alahan thì
mình vẫn còn cảm xúc khổ lạc. Trên cảm xúc khổ lạc này nếu mình có trí tuệ, có
pháp hành, không bị cảm xúc khổ lạc này nó tri phối vào tâm thức của mình. Ví dụ như trường hợp
ngài Anan ngài vẫn còn cảm xúc khổ lạc. Khi nghe đức Phật tuyên bố nhập diệt
ngài cũng buồn. Nhưng do ngài có trí tuệ, do sự sách tấn của Thế tôn, của Phật
thì Ngài Anan cũng phải hoan hỉ, chấp nhận sự ra đi của Phật, chứ không bị đau khổ, bi lụy, chán trường giống chúng ta.
Người thế gian
chưa biết tu thì cảm xúc khổ lạc của họ đầy những trạng thái phiền não, buồn chán, hụt hẫng trước sự mất mát đó. Có người khổ quá muốn
chết theo người mất. Điều này có xảy ra không? Có đó. Cho nên đức Phật nói do có
duyên Ái mà có duyên Thủ. Khi mình sống với gia đình mình, mình ái kiết sử với họ, mình sống hạnh phúc bên họ rồi mình chấp giữ cái hạnh
phúc đó, gọi là Thủ. Do có duyên Thủ mà có Hữu – sở hữu cái điều mình được có,
mình sở hữu tình cảm gia
đình, vợ chồng, con cái anh chị em. Do có Thủ mà có Hữu.
Do có Hữu mà có Sanh. Sanh là gì? Là sự sống gia đình vợ chồng cha mẹ con cái nó tạo nên sự sống với nhau. Đó là Sanh. Khi duyên Sanh không còn thì dẫn đến lLão tử - già chết. Khi già chết dẫn đến Sầu bi khổ ưu não là như vậy. Cuối cùng là sầu bi khổ ưu não mà thôi.
Do có Hữu mà có Sanh. Sanh là gì? Là sự sống gia đình vợ chồng cha mẹ con cái nó tạo nên sự sống với nhau. Đó là Sanh. Khi duyên Sanh không còn thì dẫn đến lLão tử - già chết. Khi già chết dẫn đến Sầu bi khổ ưu não là như vậy. Cuối cùng là sầu bi khổ ưu não mà thôi.
Dù trước đó mình
hưởng hạnh phúc gì, các cõi giới nào, dù là dục giới, sắc giới và vô sắc giới,
nếu mình chưa hết phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, mình chưa chứng được quả vô lậu bất động
tâm Alahan thì trước sự mất mát chia ly này cũng sẽ sầu bi khổ ưu não mà thôi. Nếu chúng ta là người biết
tu, mình biết giữ gìn cái tâm thức của mình, dù mình bị mất mát người thân gia
đình hoặc của cải vật chất nhưng do mình có cái tâm biết tu, trường hợp như ngài Anan, biết rằng Thế tôn không còn sống bên ta nữa, thôi
mình hãy chấp nhận. Ngài Anan phải kham nhẫn vượt qua cái cảm xúc mất nát này.
Dù biết rằng mình không còn sống bên thế tôn nhưng phải kham nhẫn vượt qua mà
thôi.
Cho nên người biết
tu là người biết vượt qua cảm xúc chia ly mất mát này. Chúng ta đừng để nhân quả
chia ly làm cho mình khổ não. Mình đừng để ái biệt ly tạo ra cảm xúc khổ đau.
Trong Khổ đế, Phật gọi là Ái biệt ly khổ. Khi mình sống với nhau, tình cảm với nhau, yêu thương
nhau, hạnh phúc bên nhau, bây giờ họ không
còn sống với mình nữa thì nó sẽ dẫn đến đau khổ. Cái đó Phật gọi là ái biệt ly khổ là như vậy. Nếu
mình không biết tu thì mình
khổ não tràn ngập, và khổ đến mức độ đòi chết theo luôn. Như vậy có tốt không? Không có tốt.
Người đời không
có pháp tu, người ta không biết làm chủ nhân quả chia ly này. Cho nên người ta buồn chán, hụt hẫng, rồi đòi chết theo người mất. Tự
mình hại mình mà thôi!
Còn ở đây chúng ta là người biết tu, mình biết làm chủ cảm xúc, trước sự ra đi
của người mất, thí dụ cha mẹ mình mất, vợ chồng, con cái mình mất. Và để mình không có bị nhân quả
khổ mất mát này tác động thì Phật có dạy mình pháp xả - xả cảm xúc về quả mất mát.
Đức Phật dạy mình quán về Vô thường,
Vô ngã để mình xả cảm xúc chia ly mất mát này.
Đức Phật dạy mình mọi con người sống ở đời không ai sống mãi, không ai ở với nhau mãi cả, đến lúc sự sống
này sẽ tan giã hết. Dù trước đó mình sống hạnh phúc với ai, rồi từ từ cũng sẽ tan giã hết. Ông bà cha
mẹ mình mất, đến khi cha mẹ
mình mất, rồi mình cũng mất, sau này con cháu mình tiếp nối theo sự vô thường
sinh diệt đó, lão tử đó. Ai
cũng vậy.
Khi mình hiểu ra
như vậy, trên đời này không ai sống với nhau mãi cả thì mình có nên chấp cái điều
đó không? Không có nên chấp,
vì mình hiểu rằng thế giới hạnh phúc này nó cũng giới hạn, người thân yêu mình một
lúc nào đó cũng sẽ hết, nhiều lắm là
100 năm, rồi cũng phải chia
ly mà thôi, cuối cùng cũng phải lão tử mà thôi, chứ không ai tồn tại mãi. Khi mình hiểu ra sự vô thường, vô ngã, con người chết là không còn
gì cả, không còn có khổ vui, không còn hạnh phúc gì cả, nó sẽ vô ngã hết. Cái gì vô thường vô ngã mình có nên chấp
nó trong lòng mình không? Không nên chấp.
Thí dụ bây giờ
mình được vợ chồng thương mình, con thương mình, mọi người yêu thương mình, mà
mình biết rằng cái tình thương này nó cũng vô thường, vô ngã, đến lúc nó không còn.
Khi biết như vậy mình còn chấp cái tình thương họ mang đến cho mình không?
Không còn chấp. Khi mình hiểu rằng dù ai có thương mình đến mấy, đến lúc rồi
cũng phải chia ly cả, không có gì là của mình. Khi mình hiểu các hành nhân quả
vô thường, gia đình mình vô thường, tất cả các phải hoại diệt sạch hết, không
còn sống với ta, không có gì theo ta. Mình chỉ mang theo nghiệp nhân quả luân hồi
của mình mà thôi, mình chỉ mang theo nghiệp khổ vui trước đó mình tạo, mình
thương ghét ai, hờn giận ai,
trách móc ai, mai mốt mình mang theo cái đó; chứ còn tài sản, của cải, vật chất, người thương yêu mình,
mình không mang theo được.
Còn nếu mình biết tu giải thoát giống như Phật, mình
không tạo nghiệp tham sân si với ai, mình không có buồn thương giận ghét ai,
mình không cố chấp điều gì, mình xả hết. Mà trong 12 Nhân Duyên Phật gọi là do Vô
Minh diệt mà Hành diệt. Hành diệt chỉ cho là 3 hành động
thân khẩu ý mình không có chấp gì, mình không chấp thương ghét, buồn khổ, được
mất, khen chê, đúng sai, phải trái. Ba hành thân, khẩu, ý mình diệt hết các hành nghiệp nhân quả khổ vui, được mất, tốt xấu, thành bại, khen chê,
v.v.. Ai có khen mình không mừng, ai có chê mình không
buồn. Mình diệt 3 hành nghiệp này: thân hành, khẩu hành, ý hành, mình
không còn hành động cố chấp gì cả thì đó là hành diệt.
Khi Hành diệt thì Thức diệt. Thức diệt là thế giới luân hồi: trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh sẽ diệt. Mình không còn khổ vui thì các thế giới luân hồi không còn ở bên mình nữa. Thí dụ người ta thương mình, quan tâm chăm sóc mình nhưng lòng mình không có tham chấp cái điều tốt đó, mình sống bằng cái niệm xả. Trong kinh Phật dùng từ xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh, diệt trừ hỉ ưu và cảm thọ trước. Nghĩa là mình có cái niềm vui gì, hạnh phúc gì mình đừng có nên chấp. Khi mình không có tham chấp cái điều tốt của mình như vậy thì cái nhân sinh tử luân hồi ngay đó đoạn diệt luôn. Cái đó Phật gọi là Thức diệt.
Khi Hành diệt thì Thức diệt. Thức diệt là thế giới luân hồi: trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh sẽ diệt. Mình không còn khổ vui thì các thế giới luân hồi không còn ở bên mình nữa. Thí dụ người ta thương mình, quan tâm chăm sóc mình nhưng lòng mình không có tham chấp cái điều tốt đó, mình sống bằng cái niệm xả. Trong kinh Phật dùng từ xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh, diệt trừ hỉ ưu và cảm thọ trước. Nghĩa là mình có cái niềm vui gì, hạnh phúc gì mình đừng có nên chấp. Khi mình không có tham chấp cái điều tốt của mình như vậy thì cái nhân sinh tử luân hồi ngay đó đoạn diệt luôn. Cái đó Phật gọi là Thức diệt.
Vì mình biết rằng
nếu mình còn tham chấp điều gì, dù là khổ hay lạc, cái
trạng thái đó là còn sinh tử luân hồi. Do mình hiểu biết như vậy nên cái Vô
Minh nó diệt, cái Vô Minh tà kiến chấp vào khổ lạc này nó không còn. Mình còn chấp cái gì là ta, là
của ta thì trạng thái đó gọi là Vô Minh. Ngay cả các bậc chứng 4 thiền: sơ thiền,
nhị thiền, tam thiền và tứ thiền, nếu
các ngài còn tham chấp vào các trạng thái này, còn dục hỉ nó thì cái trạng thái
đó vẫn là Vô minh lậu. Nghĩa
Vô Minh rất sâu rộng. Cái gì còn thủ chấp thuộc về ta, của
ta, là tự
ngã của ta thì cái trạng thái tâm thức đó gọi là Vô minh lậu.
Vì vậy trong kinh đức Phật có nói: 4 thiền
chứng này vẫn còn phiền trược là như vậy. 4 thiền chứng: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền là vô cùng hạnh phúc. Ai mà
an trú vào 4 thiền chứng này, mình hưởng được cõi trời sắc giới, quả dị
thục tối thượng, mình
không có đau khổ nữa. Đến đây cảm xúc khổ không còn đến với ta, cái tâm mình đến
đây an lạc lắm. Nhưng 4 thiền chứng này đức Phật dạy, đối với các bậc giải thoát vô lậu, các Ngài không chấp nó, các ngài hướng đến
niệm xả, không chấp vào 4 thiền chứng này. Cho nên các ngài không tương ương trạng
thái luân hồi nào trong các cõi trời. Các ngài chấm dứt vào các trạng thái hạnh
phúc cao nhất trong tâm thức của các ngài, các ngài không còn chấp các hạnh
phúc cao nhất trong tâm thức của bậc thánh.
Đối với Thánh thì
các ngài không chấp những cái hạnh phúc tầm thường giống như mình. Đối với
chúng ta còn phàm phu thì mình còn chấp những hạnh phúc: ăn phải ngon, mặc phải đẹp, phải được mọi người yêu quý
mình thì mình mới hạnh phúc. Cái hạnh phúc này thuộc về dục giới, hạnh phúc này
là của những người còn sống trong cõi dục. Nhưng đối với Thánh, các ngài không còn cái dục này, các ngài không
ưa thích ăn ngon, mặc đẹp, hưởng thủ vật chất ở đời, các ngài lìa xa
những cõi dục tầm thường này, cho nên các ngài không còn luân hồi dục giới nữa.
Mình mà còn ưa thích hưởng thụ vật chất thì mình còn sống
trong dục giới.
Còn đối với thánh, các ngài lìa xa cõi dục này, vì vậy mà các ngài sống đời sống
phạm hạnh thiểu dục tri túc biết đủ, các ngài không có nhu cầu ưa thích hưởng
thụ vật chất, vì vậy mà các ngài hoan hỉ sống hạnh thiểu dục trí túc - ít muốn biết đủ. Các ngài tự biết đủ cái
hoàn cảnh sống của quý ngài. Do các ngài sống như vậy nên các ngài hạnh phúc lắm.
Nếu lỡ các ngài thiếu thốn cái gì, các ngài không có khổ.
Còn người sống
trong cõi dục nếu thiếu thốn chút xíu thì khổ không? Khổ lắm! Lỡ hôm nay hết tiền
rồi, trong tâm lo không biết ngày mai ăn gì đây. Nhưng đối với Thánh các ngài
có cái tâm như vậy không? Các ngài không có cái tâm đó. Thí dụ hôm nay ngài đi
ra làng khất thực, trong tâm
ngài cũng không mong người này phải cúng dường mình nhiều hoặc ngài cũng không sợ người này không cúng
mình. Ngài đi ra làng khất thực, ai cúng gì ăn nấy, cúng nhìu ăn no, cúng ít ăn đói, ngày nào không
cúng thì hoan hỉ cái bụng đói. Cái ngài không có màng cái việc đói khát, không
có màng cái việc người này
cúng nhiều hay ít. Các ngài không có khởi cái nhu cầu cái muốn đó. Sáng ngài đắp
y, ôm bát ra làng khất thực,
ai cho gì nhận cái đó, ai cúng gì ăn nấy, không có khen chê nhiều hay ít. Các
ngài lì xa trạng thái dục giới, các ngài không còn tham đắm hưởng thụ dục giới
đó nữa. Cho nên mình thấy đức Phật ngài sống phạm hạnh như vậy không
phải là ngài khổ hạnh đâu. Không phải ngài đi xin ăn mà ngài khổ hạnh đâu, mà
đó là thế giới giải thoát của quý ngài. Ngài lìa xa cõi dục giới.
Còn bây giờ mình
còn hưởng thụ vật chất, lúc nào cũng muốn đầy đủ này nọ thì nó còn sống trong
cõi dục. Cho nên những người thế gian bây giờ bắt họ sống như Phật ăn ngày 1 bữa, không đòi hỏi này nọ thì họ có sống
được không? Khó lắm! Cho nên từ cõi dục mà thoát được
cõi dục, được sống cõi sắc giới là khó khăn lắm. Chúng sinh mà thoát được cõi dục
này thì rất là hiếm. Đa
phần người ta mê đắm theo dục vọng, sống trong cõi dục này, ít ai mà được thoát ra lắm. Còn đối với Phật, Thánh, các bậc Alahan, các ngài thoát được cõi dục cho nên các ngài không có màng
thế gian dục, nhu cầu về dục, sắc, thanh, hương, vị, xúc. Các ngài tự sống đời sống thiểu dục tri túc biết đủ, không có nhu cầu
về hưởng thụ vật chất. Tâm thức của ngài không còn sống trong dục giới.
Do các ngài ly được
cõi dục giới, các ngài thực hiện thiền định, ly dục,
ly bất thiện pháp, diệt trừ 5 triền cái tham, sân,
hôn trầm,
trạo cử và nghi. Từ đó ngài sống trên
các cõi giải thoát cao hơn. Đó là cõi sắc giới – trạng thái hạnh phúc thuộc
về tâm thức. Các ngài
không còn các trạng thái tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi tác động tâm thức của các ngài nữa. Trong tâm của ngài thanh lọc sạch hết các hành khổ này. Nó giống như
là nước, được lọc sạch tinh khiết, không còn cặn bùn gì trong nước này. Trạng thái tâm giải thoát của bậc thánh - chứng sơ
thiền là nó không còn tất cả các phiền não nào trong tâm. Nó không còn tham, sân, hôn trầm, trạo cử, nghi.
Trạo cử là cái
tâm thương ghét, lo lắng, sợ
hãi, đau khổ. Trong lòng mình giận ai, hờn ai thì
nó nghĩ đến cái người kia hoài. Cái tâm đó là trạo cử. Còn bậc chứng được sơ thiền, trong tâm ngài nó tẩy
trừ sạch những cái phiền não đó. Thí dụ người này đến chê ngài, thì ngài nghe
xong bất động liền, tai này nghe
xong tai kia mất, nó không để lại cái khái niệm khổ lạc nào, sự dính mắc nào
chuyện người ta chê mình, nghe xong là mất liền. Cái trạng thái đó là không còn
trạo cử, không còn thiệt hơn, đúng sai, phải trái, khen chê, tốt xấu cái chuyện người ta khen chê mình. Cái
tâm đó Phật ví “như đá tảng
kiên cố, không gió nào lay động, bất động giữa khen chê, người trí không dao động.”
Còn nếu mình còn
tham, sân, hôn trầm, trạo cử, nghi, khi mình còn cái nghiệp này, khi nghe người ta chê mình, trong lòng
nó buồn nó giận, nó nghĩ đến cái người chê mình, cứ giận hoài, nghĩ đến người
này mình cứ giận họ, mình đau khổ họ. Cái tâm đó gọi là trạo cử, nó còn cái
nghiệp này, nó chưa có tẩy trừ sạch cái tâm đau khổ đó. Còn bậc giải thoát
các ngài tẩy trừ sạch các triền cái trạo cử, nghi, tham, sân. Ngài gặp đối tượng ác xấu nào
đến với ngài, tâm ngài hỉ xả hết, bất động hết, cho nên các ngài hưởng được hạnh phúc cõi trời sắc giới – đó là sơ thiền,
mà trong kinh Phật gọi là Hiện tại lạc
trú định. Ngài an trú vào trạng thái thanh thản vô sự, không có khổ lạc, không có
đau khổ điều gì, nó luôn bất động. Cái hạnh phúc đó gọi là Hiện tại lạc trú, là
Sơ thiền.
Nhưng đối với bậc
vô lậu Alahan, dù các ngài được trạng thái hạnh phúc tuyệt diệu đó, hạnh
phúc không còn 5 triền cái tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi, dù ngài được hạnh phúc này, ngài xả nó luôn, không
chấp trước nó. Vì vậy trong trạng thái thiền chứng thứ 4, vị này xả
lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh, diệt trừ hỉ ưu và cảm thọ trước. Trong đó có niệm
thanh tịnh là trạng thái không còn phiền não tham,
sân, hôn trầm, trạo cử và nghi. Nó
chứng được các thiền chứng nào, tâm của ngài thanh tịnh an lạc lắm, nhưng các
ngài cũng phải hướng đến niệm xả luôn, không có chấp trước nó.
Ngay đó ngài thoát được sắc giới, ngài không còn luân hồi vào cõi trời sắc giới
cao hơn, ngài đạt được hạnh phúc gì thì ngài cũng phải xả nó. Cái tâm
đó gọi là xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh. Ngài không còn luân hồi
vào cõi trời sắc giới nữa.
Cho nên đối với bậc
thánh, các ngài đã thanh tịnh vô lậu rồi, các ngài phải hướng tâm về trạng thái đoạn diệt mọi ràng buộc nhân quả
sinh tử luân hồi. Đến đây trong tâm thức của ngài không còn Vô minh lậu.
Khi các ngài hiểu ra như vậy, các ngài tu tập hướng đến niệm xả như vậy, xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh, các ngài không còn chấp trước khổ lạc
trên thân của ngài, ngài xả hết thì cái
trạng thái đó không còn Vô minh lậu. Trong 12 Nhân Duyên Phật gọi là Vô Minh diệt là như vậy.
Khi Vô Minh diệt thì Hành diệt, trong đó có ý hành, nó không còn thủ đắc, chấp
thủ, chấp trước lạc khổ, niệm thanh tịnh, nó không còn chấp lạc khổ niệm thanh
tịnh, nó xả lạc xả khổ xả niệm thanh tịnh, xả hết. Cái đó gọi là Hành diệt.
Trong ý thức này không
còn chấp thủ các thế giới tâm thức khổ lạc nào, đó là Hành diệt.
Do hành diệt thì thức diệt. Nghĩa là các tu tập thanh tịnh an lạc đạt được kết
quả đó nhưng các ngài xả luôn không còn chấp trước nó nữa. Đó là thức diệt đó.
Cái trạng thái đó gọi là Tịch tĩnh Niết bàn. Tịch là dừng lại
hết những cảm xúc khổ lạc nào, giải thoát nào, thanh tịnh nào trên thân ngũ uẩn
này, các ngài dừng lại hết. Cái trạng thái tâm thức đó gọi là tịch
tĩnh niết bàn. Nó không còn tương ưng cõi giới nào cả. Đến đây đức Phật
nói vị này không còn sống trong ba cõi:
dục giới, sắc giới, vô sắc giới; vị này không còn sống trong 3 lậu hoặc: dục lậu,
hữu lậu và Vô minh lậu.
Đến đây các ngài không còn Vô minh lậu, vì các ngài xả hết rồi,
không còn chấp trước các hành khổ lạc nào, sự thanh tịnh nào trên thân của
ngài, ngài bất động vô sự hết, không còn chấp trước điều gì. Cái trạng thái đó
gọi là Tịch tĩnh niết bàn. Cho nên là khi Vô Minh diệt thì hành diệt. 3 hành động
thân khẩu ý nó không còn chấp thủ tạo tác các hạnh nghiệp nhân quả luân hồi nào
trên tâm thức này. Khi hành diệt thì khổ vui nó sẽ diệt hết. Mà trong thiền chứng
thứ 4 Phật dùng từ: xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh, diệt trừ hỉ ưu và cảm
thọ trước. Cái trạng thái đó gọi là thức diệt.
Thức diệt chỉ cho
các thế giới thượng phần kiết sử: sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử và vô minh
nó không còn chi phối trên tâm thức của quý ngài. Dù các ngài có an lạc như thế
nào thì các ngài xả hết không chấp trước đó là Thức diệt. Trong 12 Nhân
Duyên Phật gọi là Thức diệt. Thức diệt là trạng thái tịnh tĩnh niết bàn. Trạng
thái không còn luân hồi sinh tử các cõi giới nào: dục giới sắc giới và vô sắc
giới. Đó là Thức diệt. Khi Thức diệt thì Danh sắc diệt. Nghĩa là đến đây mình không
còn duyên hợp cái thân nhân quả nào để mình sinh tử nữa. Đó là Danh sắc diệt.
Danh sắc diệt là cái thân ngũ uẩn này nó không còn phiền não, nó không còn chấp
trước nó không còn thân kiến nữa, đẹp xấu mặc, khen chê cái thân này mặc, đói
khát mặc, bệnh tật hay mạnh khỏe mặc. Nó không còn màng cái thân này là của ta
nữa. Đến đây cái thân danh sắc mình không còn phiền não đau khổ nữa. Đó là Danh
sắc diệt. Trong Danh sắc diệt này mình hiểu thêm nữa là nó không còn duyên hợp
tạo thành cái thân danh sắc kế tiếp. Nghĩa là mình không còn duyên hợp tạo
thành 1 cái thân nhân quả kế tiếp.
Trong Danh sắc diệt
này, mình phải hiểu nó có 2 phần: Thứ nhất mình diệt cái thân danh sắc hiện
tại này, thân tứ đại ngũ uẩn sắc thọ tưởng hành thức này, mình không
còn khổ lạc trên cái thân tứ đại này, vui buồn, hạnh phúc cảm xúc gì nó không
còn tác động nữa thì cái đó gọi là danh sắc diệt. Thứ 2 là mình không còn duyên hợp 1 cái thân nhân quả tiếp theo nào để mình tái sinh
luân hồi nữa. Cái đó cũng gọi là danh sắc diệt luôn.
Hiện tại mình chưa diệt được cái danh sắc thân này, vì vậy khi ai xúc phạm cái thân này thì mình thường hay đau khổ cái thân này. Thí dụ ai chê mình xấu thì trong lòng mình cảm thấy đau khổ, vì còn chấp cái thân này cho nên mình còn khổ, cái thân này nó còn cái danh sắc; hoặc thân mình bệnh đau nó sợ hãi cái bệnh đau, mình đau khổ cái bệnh đau này thì nó còn là Danh Sắc, nó còn là nghiệp, nó còn là luân hồi sinh tử trên cái thân tứ đại này. Do mình còn có cái nghiệp thân danh sắc này vì vậy mình mới tạo tác nghiệp để mình duyên hợp thành cái thân danh sắc tiếp theo. Khi cái thân này hết duyên nó hoại diệt thì mình sẽ tương ứng cái thân nhân quả tiếp theo để mình tái sinh 1 đời sống mới, mình có thân danh sắc mới là như vậy.
Hiện tại mình chưa diệt được cái danh sắc thân này, vì vậy khi ai xúc phạm cái thân này thì mình thường hay đau khổ cái thân này. Thí dụ ai chê mình xấu thì trong lòng mình cảm thấy đau khổ, vì còn chấp cái thân này cho nên mình còn khổ, cái thân này nó còn cái danh sắc; hoặc thân mình bệnh đau nó sợ hãi cái bệnh đau, mình đau khổ cái bệnh đau này thì nó còn là Danh Sắc, nó còn là nghiệp, nó còn là luân hồi sinh tử trên cái thân tứ đại này. Do mình còn có cái nghiệp thân danh sắc này vì vậy mình mới tạo tác nghiệp để mình duyên hợp thành cái thân danh sắc tiếp theo. Khi cái thân này hết duyên nó hoại diệt thì mình sẽ tương ứng cái thân nhân quả tiếp theo để mình tái sinh 1 đời sống mới, mình có thân danh sắc mới là như vậy.
Như vậy, thế giới luân hồi sinh tử nó ở đâu? Ở trên
cái thân ngũ uẩn này. Mà cái thân ngũ uẩn này nó luần hồi bởi do Vô
Minh. Vì có Vô Minh mà nó mới hành động chấp ngã vào các hành khổ nhân quả của
mình. Vì có Vô Minh mình mới thương ghét, khổ lạc buồn phiền sân giận trách
móc. Vì còn Vô Minh đó, mình mới có những hành động nghiệp. Vì vậy Phật nói do
có duyên Vô Minh mà có hành. Vì có Hành mà có Thức. Đó là thế giới khổ lạc hạnh
phúc đến với ta. Vì có Thức mà có Danh sắc, mình chấp thủ vào Danh sắc này, lúc
này mình chấp mình đẹp, mình chấp mình xấu, mình chấp mình mập ốm này, đủ thứ điều
trên cái thân này, đau khổ mọi điều trên cái thân này là như vậy.
Cho nên khi chúng ta hiểu được thế giới 12 Nhân Duyên qua
các mắt xích giàng buộc đau khổ luân hồi sinh tử như vậy. Vì vậy Phật dạy mình
phải đoạn diệt các duyên này. Thứ nhất là mình đoạn diệt duyên Vô Minh. Muốn
đoạn diệt duyên Vô Minh, mình phải hiểu về Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Trong đó có Đạo dế là Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ,
Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Trong Bát
Chánh Đạo nó có 3 phần của Giới – Định – Tuệ: Chánh kiến, Chánh tư duy thuộc về
Tuệ; Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp nó thuộc về Giới, Chánh tinh tấn, Chánh
niệm, Chánh định nó thuộc về Định.
Người không còn Vô Minh đồng nghĩa người này chứng được Bát
Chánh Đạo. Chúng ta hiểu điều này một cách rõ ràng. Người không còn Vô Minh, người
này chứng được Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo. Người này có được Chánh kiến, Chánh
tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh
Định. Người không còn Vô Minh đồng nghĩa rằng người này có được Minh. Mà Minh
là Bát Chánh Đạo, mà Bát Chánh Đạo là Chánh kiến, Chánh tư duy. Đó là Tuệ. Và
khi có Tuệ rồi, có Minh rồi thì từ nay mình còn dám hành động điều ác nào không?
Không còn. Đó là Hành diệt. Mà Hành diệt là thân hành, khẩu hành, ý hành không
còn tạo tác hành động ác nữa.
Thí dụ như thân mình không có giết hại, khẩu mình không xúi
người giết hại, ý mình không hoàn hỉ người giết hại. Đó là Hành diệt. Mà Hành
diệt chỉ cho Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp. Trong 12 Nhân Duyên nói đến
duyên hành, hành diệt, chỉ cho người này sống đúng Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh
nghiệp. Người này không còn tạo nghiệp ác nào, đó là hành diệt. Trước đây mình
còn sát sinh hại vật, bây giờ mình không còn. Trước đây mình còn gian tham, trộm
cắp, keo kiệt, bỏn xẻn, bây giờ không còn. Đó là Hành diệt. Trước đây mình đi chợ mua hàng còn trả
giá, chọn lựa tốt xấu, bây giờ không còn. Trước đây đi chợ, mình mua ký dưa leo,
nải chuối cũng ráng mà trả giá. Ký dưa leo 10 ngàn, mình giáng trả giá 8 ngàn.
Như vậy là hành diệt chưa? Hành chưa diệt! Nghĩa là thân - khẩu - ý mình chưa
có Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp. Nó còn nghiệp tham, nghiệp ích kỷ, san
tham lợi dưỡng. Nó muốn mua ký dưa leo phải rẻ mới mua. Cái tâm đó là còn tham,
còn ích kỷ đó Phật tử. Con người còn cái tâm này là còn ích kỷ. Nó chưa có đoạn
diệt cái nghiệp tham. Khi chưa đoạn diệt nghiệp tham này thì hệ quả là còn khổ.
Khổ là kém may mắn, làm ăn thất bại, nghèo khổ, túng thiếu. Cái tâm mình nó còn
cái tham đó, san tham lợi dưỡng vật chất, nó còn ích kỷ cái này là nó còn nghiệp
khổ luân hồi, mà nghiệp khổ luân hồi này là gì? Đó là thế giới của ngạ quỷ. Thế
giới của đau khổ về sự đói khát, nghèo khổ, túng thiếu, làm ăn thất bại.
Cho nên mình thấy quá trình mắt xích khổ uẩn nhân quả sinh tử
luân hồi của ta nó vậy đó. Thế giới 12 Nhân Duyên đức Phật trạch pháp cho mình
rõ về sự thật khổ. Tại sao mình còn hành động cái điều tham đó? Nó bắt nguồn từ
Vô Minh mà ra. Mà Vô Minh là tà kiến, mình không có Chánh kiến, Chánh tư duy, đó là Vô
Minh.
Người mà có Chánh kiến, Chánh tư duy người ta biết rõ lắm: Nếu
mình tham là mình khổ, mình ích kỷ là mình khổ. Khi nó có Minh có Chánh kiến,
Chánh tư duy như vậy thì 3 hành động thân khẩu ý nó còn tham không? Hết tham.
Đó là Hành diệt đó.
Khi mình có Minh, có trí tuệ thì từ này mình không còn
hành, từ nay mình sống Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, mình không còn tạo
nghiệp tham, sân, si nào. Đến đây mình mới sống đúng Thánh Giới: không có gian tham, trộm cắp, ích kỷ, keo
kiết, bỏn xẻn. Mình sống đức hạnh ly tham, mình không san tham tài vật, lợi
dưỡng đó. Mình sống Hạnh Thánh – thiểu dục tri túc biết đủ. Từ đó Hành diệt. Khi Hành diệt thì Thức diệt. Thức diệt mình hiểu đó là Định.
Cho nên 12 Nhân Duyên chỉ cho Bát Chánh Đạo.
Khi mình có Minh đồng nghĩa mình có Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh
nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh Định. Minh
là Chánh kiến, Chánh tư duy. Hành diệt chỉ cho Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh
nghiệp. Thức diệt chỉ cho Chánh tinh tấn, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Nó có sự liên quan mật thiết Giới Định Tuệ – Bát Chánh Đạo – 12 Nhân Duyên cả:
- Khi mình không còn Vô Minh, đồng nghĩa mình có được Chánh kiến, Chánh tư duy.
- Khi Vô Minh diệt thì Hành diệt, đó là Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp.
- Do mình sống đúng Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, mình không còn tạo tác cái nghiệp tham sân si thì đó là Thức diệt. Mà Thức diệt đó là Chánh Định. Thức diệt, mình hiểu là Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Chánh định là nó dừng lại các thế giới khổ lạc.
Thí dụ người ta đến khen mình, mình biết,
mình không chấp; người ta đến chê mình, mình biết mình không còn giận buồn,
mình không có thường ghét cái khen chê, đó là Định. Mà định đồng nghĩa là Thức
diệt. Thức diệt chỉ cho là Định. Như vậy chúng ta thấy 12 Nhân Duyên, Bát Chánh
Đạo và Giới – Định – Tuệ nó chỉ là một mà thôi, nhưng khi mình phân tích ra nó
phải rõ ràng như vậy.
Khi mình giữ giới là mình sống đúng Chánh mạng, Chánh ngữ,
Chánh nghiệp. Người sống đúng Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh niệm khi nói ra lời
nói nào lúc nào cũng Chánh ngữ, nói ra không làm khổ mình khổ người. Trong 12 Nhân
Duyên, Phật gọi là hành diệt là như vậy. Hành diệt là mình không còn hành động
thân khẩu ý, nói ra lời ác, lời xấu, làm hại mình hại người. Đó là Hành diệt.
Do có Hành diệt mà có Thức diệt. Thức diệt là Chánh định là như vậy.
Như vậy rằng khi có Minh là mình có được Chánh kiến, Chánh Tư
Duy. Khi Vô Minh diệt thì Hành diệt, mình có được Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh
nghiệp. Khi Hành diệt thì Thức diệt. Mình có được Chánh tinh tấn, Chánh niệm và
Chánh định.
Mình kết luận là Minh là Chánh kiến, Chánh tư duy. Vô Minh diệt thì Hành diệt, là Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp. Hành diệt thì Thức diệt, là
Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định thì mình kết luận rằng đó là Giới – Định
– Tuệ.
- Tuệ là Minh, là Chánh kiến, Chánh tư duy.
- Giới là Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp, chỉ cho Hành diệt.
- Định chỉ cho Thức diệt, đó là Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
Ba phần này nó tương tục
thành 1 khối với nhau, không có tách rời.
Cho nên khi mình hiểu về 12 Nhân Duyên, đó là mình hiểu về Tứ
Diệu Đế. Trong đó có Đạo đế, Bát Chánh Đạo. Trong Bát Chánh Đạo nó phân ra 3 phần
Giới – Định – Tuệ. Nó tương ứng là Vô Minh diệt thì Hành diệt và Thức diệt. Nó
có 3 phần như vậy. Và phần cuối cùng Phật sâu chuỗi cho cái pháp này là Giới
sinh Định, Định sinh Tuệ là như vậy. Hành ngày mình hiểu được Giới, mình tu tập
theo Giới, nó mới dừng lại các nghiệp ác, đó là Định.
Hàng ngày mình không có
sát sinh hại vật, đó là Định đó. Hàng ngày mình không có tham lam, trộm cắp,
keo kiết, bỏn xẻn, đó là Định luôn. Hàng ngày, mình không có sân giận, buồn phiền,
nghi ngờ người này xấu, người này ác, nó buông xả hết, đó là Định đó. Cái tâm
mình sống yêu thương và tha thứ hết không có thương ghét trách móc ai điều gì,
hỉ xả hết, tha thứ hết thì cái tâm đó là Định luôn. Nhờ có từ - bi - hỉ - xả nó
cảm hóa mọi cái gốc phiền não trong tâm của ta là như vậy.
Như vậy rằng cái pháp của Phật, tu là giác ngộ ra điều đó. Khi mình giác ngộ ra quá trình
12 Nhân Duyên này, Tứ Diệu Đế này, Giới – Định – Tuệ này, để từ đó mình soi rọi
vào tâm thức của mình. Cái duyên nào tạo thành nghiệp khổ mình hiểu ra hết.
Cái tâm thức đó Phật gọi là ngọn đèn của trí tuệ. Vì vậy, đức Phật
nói sau khi ta diệt độ, các con phải lấy các con làm đảo cồn nương tựa và lấy
giáo pháp này của Như Lai làm ngọn đèn tự mình thắp đuốc soi rọi mà đi. Ngọn đèn
của trí tuệ đó là Giới – Định – Tuệ, Bát Chánh Đạo và 12 Nhân Duyên.
Mình làm ngọn đèn của trí tuệ này, để soi rọi vào tâm thức này để mình gột rửa
những tập khí phiền não tham, sân, si, mạn, nghi của mình thì ngay đó phiền não
đau khổ đoạn diệt sạch. Mà khi nó đoạn diệt thì Phật nói người này đã đoạn diệt
12 mắt xích của 12 Nhân Duyên. Đến đây mắc xích tạo nên thế giới khổ của 12 Nhân
Duyên nó sẽ sụp đổ sạch. Các xiềng xích trói buộc thế giới khổ cái thân ngủ uẩn
này, thế giới luân hồi sinh tử của ta nó sẽ vỡ vụn ra hết tan nát hết, nó không
còn tương tác tạo ra cái bánh xe luân hồi.
Vì vậy Phật nói khi Vô Minh diệt thì Hành diệt. Mà Hành diệt
là Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, mà khi Hành diệt thì Thức diệt, đó là
Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh Định. Mà khi Thức diệt thì Danh Sắc này đoạn
diệt. Nghĩa là thế giới nghiệp khổ luân hồi không còn tương ưng với chúng sinh
nào nữa. Đó là Danh Sắc diệt. Mình không còn đầu thai tái sinh 1 cái thân nhân
quả nào kế tiếp nữa. Đó là Danh Sắc diệt. Và khi Danh Sắc diệt thì Lục Nhập diệt.
Nghĩa là mình sống cái thân này nhưng thực chất đã là Niết bàn rồi. Đến đây là
mọi cái khổ lạc gì nó sẽ không còn, mọi khổ lạc nó sẽ dừng lại hết. Tai mình
nghe, mắt mình thấy, 6 căn này tiếp xúc với 6 trần nó không còn tương tác tạo
ra các hành khổ nào, cái thân này sống để mà sống thôi chứ nó không còn phiền
não điều gì, nó không còn sinh tử luân hồi gì nữa. Thì cái trạng đó Phật gọi là
hóa sanh vào Niết bàn.
Một vị Danh Sắc diệt, Lục Nhập diệt thì vị
này đã nhập Niết bàn rồi. Thân này còn sống nhưng nó đã nhập Niết bàn rồi. Phật
còn gọi là Hữu dư y Niết bàn. Mình sống trong Niết bàn
nhưng nó còn cái thân danh sắc này, cái thân ngũ uẩn này, gọi là Hữu dư y niết
bàn. Mình đã nhập Niết bàn rồi đó, chứ không phải chờ cái thân này chết đi mình
mới vào Niết bàn. Khi mà Danh Sắc diệt thì mình đã sống trong Niết bàn rồi, mà
đức Phật dùng từ là vị ấy hóa sanh vào Niết bàn, nhập Niết bàn ngay tại cái thân
tứ đại đó, dù cái thân này còn sống dù cái thân này có khổ lạc, bệnh đau, tai
ương, hoạn nạn gì đến nhưng nó cũng là Niết bàn.
Vì vậy, trong kinh có câu chuyện có vị này đến xin đức Phật
xuất gia tu hành. Trước khi xuất gia, đức Phật có khai ngộ cho vị này biết rõ về
cái thân vô thường tứ đại này, ai có thân này cũng phải
vô thường hợp tan, không có gì là của mình cả, thân này đẹp hay xấu, mập hay ốm,
khổ hay vui, giàu hay nghèo, thông mình hay học giỏi nhưng cuối cùng khi cái
thân này hoại diệt, nó trở về cát bụi, không còn khổ lạc, không còn giàu nghèo,
tất cả là không hết. Cái thế giới đó gọi là Vô ngã. Cuối cùng các
pháp nó dẫn đến vô ngã. Giàu hay nghèo đẹp hay xấu, mập hay ốm, khổ hay vui,
giàu hay nghèo, thông minh hay học giỏi, cuối cùng cũng trở thành vô ngã hết. Các
pháp này vô ngã hết.
Khi đức Phật khai ngộ pháp vô ngã cho vị này thì vị này ngộ
ra thân này không phải của mình, dù mình có được cái gì hay không
được cái gì thì nó cũng không phải của mình, nó vô ngã. Khi vị này ngộ ra như vậy thì vị
này còn chấp đẹp xấu, khổ lạc, thông minh hay ngu dốt không? Đến đây là khái niệm chấp ngã này không còn, đó là vô ngã. Khi vị này
chứng được vô ngã này thì ngay đó là vị này giải thoát, Niết bàn. Cho nên sau khi vị này
ngộ xong, vị này xin xuất gia theo Phật và đức Phật đồng ý cho vị này xuất gia.
Sau khi xuất gia xong vị này xin phật cáo từ để ra ngoài xin y bát, làm 1 vị sa
môn khất sĩ xin ăn. Và vị này đi xin y bát, gặp 1 con bò điên húc vị này chết.
Sau khi vị này chết, một số vị tỳ kheo khác về báo cho đức
Phật biết: “Kính bạc thế tôn. Vị mà thế tôn độ cho xuất gia, và sau đó đi ra
ngoài xin y bát không may gặp con bò điên húc chết, vị này sau khi chết thọ
sanh vị này đi về đâu thưa đức thế tôn?” Đức Phật trả lời rằng: vị này do có
lòng tin bất động với ta, hiểu những điều ta dạy và xử sự đúng pháp của ta. Sau
khi vị này mạng chung, nhập Niết bàn, hóa sanh Niết bàn ngay thời điểm đó.
Nghĩa là khi vị này nghe đức Phật khai ngộ, hiểu được thân Vô thường, Vô ngã và
vị này buông xả, không còn chấp nó nữa và xử sự đúng pháp này của Phật, có lòng
tin bất động cái pháp này của Phật thì ngay đó vị này nhập Niết bàn, hóa sanh Niết
bàn. Còn cái thân vị này bị con bò điên húc chết, chẳng qua nó là nhân quả cuối
cùng để vị này xả báo thân vào Niết bàn mà thôi. Dù cái thân này chết bằng hình
thức nào, chết bình thường, hoặc là tai nạn chết, hoặc là bị con bò điên húc chết
nhưng vị này cũng giải thoát Niết bàn, chứ không đau khổ, luân hồi giống như ta
nữa đâu.
Cho nên khi chúng ta đoạn diệt được thân danh sác,
thân ngũ uẩn khổ này thì đồng nghĩa vị này nhập Niết bàn, hóa sanh Niết bàn
ngay tại cuộc sống của họ, dù vị này còn sống nhưng tâm thức của họ đã ở trong
Niết bàn rồi. Nếu mà chúng ta có duyên, mình thân cận vị này thì mình
biết vị này ở trong Niết bàn. Vị này ở trong Nết bàn là sao, dễ biết lắm. Nếu
lỡ vị này có ai mắng chửi xúc phạm vị đó, mà mình xem tâm vị đó không có buồn
giận đau khổ, vị đó đã Niết bàn rồi đó. Vị này không có màng cái thân này đẹp xấu
mặc nó, ốm đau bệnh tật mặc nó, ngài không còn dính mắc chấp trước cái khổ lạc
thì đồng nghĩa vị này đã Niết bàn rồi. Vị này không còn phiền não đau khổ, dao
động điều gì, ai khen chê mặc, tốt xấu mặc, được mất mặc, thành bại mặc, các
ngài không còn dính mắc điều gì nữa. Cái tâm đó gọi là Niết bàn.
Còn ngược lại, mình không có được cái tâm này thì mình có niết
bàn chưa? Chưa! Nghe ai chê 1 câu ngồi đó mà buồn, than khổ rồi khóc, tâm đó là
phiền não, tâm đó là sinh tử rồi. Tâm đó là luân hồi rồi. Tâm đó là chưa có hết
khổ, tâm đó là Hành chưa có diệt, Hành chưa có diệt thì Thức chưa diệt. Nó còn
khổ lạc, nó còn đau khổ trong lòng của mình thì chưa có Định đâu.
Cho nên 1 người đoạn diệt 12 Nhân
Duyên thì ngay tại hiện tại người ta đã hóa sanh vào Niết bàn rồi. Đến phần Danh
sắc diệt thì vị này đã vào Niết bàn rồi. Khi Thức diệt thì các thế giới luân hồi
nó dừng lại rồi, lấy gì mà duyên hợp tái sinh 1 đời nào nữa. Đó là Danh sắc diệt
đó. Danh sắc diệt là ngũ uẩn đoạn diệt rồi, khổ lạc nó đâu còn nữa, Lục nhập
cũng đâu còn nữa. Mà khi Lục nhập nó không còn thì lấy gì có Xúc. Không có Xúc,
lấy gì có Thọ. Không có Thọ, lấy gì có Ái – giàng buộc. Không có Ái, lấy gì có
Thủ. Mà không có Thủ lấy gì có Hữu. Không có sở hữu mong muốn cái gì cho mình nữa
thì lấy gì có Sanh. Nó không có giàng buộc nhân quả giữa mình với gia đình, với
con trò, với đệ tử. Đó là Sanh diệt. Mà khi Sanh diệt lấy gì có Lão tử, khi không
có Lão tử thì lấy gì có Ưu bi khổ não. Dù người này có sống hay chết
thì mình cũng bất động luôn. Dù mình có già chết, mình cũng bất động luôn. Hoặc
người thân mình có già chết thì mình cũng bất động luôn. Đó là không còn ưu bi
khổ não là như vậy.
Khi mình đã sống trong Niết bàn rồi thì các duyên còn lại
xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử, sầu bi khổ ưu não ngay đó là đoạn diệt sạch.
Tại vì mình đã đoạn diệt sạch nó. Tại vì mình đã diệt được cái thân Danh sắc rồi,
do mình có minh mà Hành diệt, Hành diệt thì Thức diệt. Thức diệt thì Danh sắc
diệt. Danh sắc diệt cái thân ngũ uẩn này không còn khổ nữa, đồng thời cái thân
duyên hợp tái sinh không còn tương ưng 1 cái thân nhân quả nào với ai. Đó là Danh sắc diệt, đến đây duyên Lục nhập đoạn diệt sạch hết.
Hôm nay thầy giúp cho quý sư và quý phật tử hiểu rõ về 12 Nhân
Duyên. 12 Nhân Duyên nó là mắt xích quá trình dẫn đến đau khổ nhân quả luân hồi
của ta. Muốn hiểu 12 Nhân Duyên này thì mình phải hiểu rõ về Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập,
Diệt, Đạo. Rồi khi mình thông suốt về Tứ Diệu Đế, mình hiểu được Đạo đế,
Bát Chánh Đạo thì mình mới hành đúng Giới – Định – Tuệ. Giới – Định – Tuệ là phần
để mình hành trì tu tập để mình không còn tạo nhân quả luân hồi sinh tử nữa.
(Phật tử đánh máy lại bài giảng Tứ Diệu Đế và 12 Nhân Duyên của thầy Thích Bảo Nguyên - Giảng ngày: 30/04/2019)
No comments:
Post a Comment