Monday, 14 September 2020

KINH VÔ NGÃ TƯỚNG

 Tương Ưng Bộ, III, 66

Kinh Vô Ngã Tướng

Anattalakkhana sutta


Giới thiệu: Ðây là bài Pháp thứ hai mà Ðức Phật giảng cho các vị đệ tử đầu tiên, 5 anh em Kiều Trần Như. Sau khi nghe xong bài Pháp nầy, anh em Kiều Trần Như giác ngộ và đắc quả A la hán. [1]

Bài dịch nầy trích từ quyển "Ðức Phật và Phật Pháp", Phạm Kim Khánh dịch từ quyển "The Buddha and His Teachings" của Hòa Thượng Narada.

--oOo--

 

Một thời nọ, lúc Ðức Thế Tôn ngự tại vường Lộc Uyển, xứ Chư Thiên Ðọa Xứ (Isipatana), gần Ba La Nại (Benares), Ngài dạy nhóm năm vị tỳ khưu như sau:

-- Này hỡi các Tỳ Khưu!

-- Bạch hóa Ðức Thế Tôn, năm vị trả lời.

Rồi Ðức Phật truyền dạy:

-- Này hỡi các Tỳ Khưu, sắc (rũpa, thể chất, xác thân nầy) là vô ngã (anattã, không có một linh hồn [2]). Nầy hỡi các Tỳ Khưu, nếu trong sắc có ngã, như vậy sắc không phải chịu đau khổ. Sắc này phải như vầy hay phải như thế kia, tường hợp tương tự có thể xảy ra. Nhưng vì sắc không có ngã nên sắc này còn phải chịu khổ đau và không thể có trường hợp (ra lịnh): Sắc này phải như vầy, hay phải như thế kia [3].

Cùng một cách ấy, thọ (vedana), tưởng (sanna), hành (samkhara) và thức (vinnana) đều vô ngã [4].

Vậy như Tỳ Khưu nghĩ thế nào, thân này thường còn hay vô thường?

-- Bạch Thế tôn, là vô thường (anicca).

-- Cái gì vô thường là khổ não hay hạnh phúc?

-- Bạch Thế tôn là khổ não.

-- Vậy, có hợp lý chăng nếu nghĩ đến cái gì vô thường, khổ não và tạm bợ với ý tưởng: Cái này của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi?

-- Bạch Ðức Thế Tôn, chắc chắn là không hợp lý.

-- Cùng một thể ấy, nầy hỡi các Tỳ Khưu, thọ, tưởng, hành, thức, đều là vô thường và khổ não. Vậy, có hợp lý chăng nếu nghĩ đến cái gì vô thường, khổ não và tạm bợ với ý tưởng: Cái này của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi [5]?

-- Bạch đức Thế tôn, chắc chắn là không hợp lý.

-- Như vậy, này hỡi các Tỳ Khưu:

Tất cả các sắc, dầu ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, ở bên trong hay ở ngoại cảnh, thô kịch hay vi tế, thấp hèn hay cao thượng, xa hay gần, phải được nhận thức theo thực tướng của nó ---- Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.

Tất cả các thọ, tưởng, hành, thức, dầu ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, ở bên trong hay ở ngoại cảnh, thô kịch hay vi tế, thấp hèn hay cao thượng, xa hay gần, phải được nhận thức theo thực tướng của nó ---- Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.

Bậc Thánh đệ tử đã thông suốt pháp học thấy vậy thì nhàm chán sắc, thọ, tưởng, hành, thức, dứt bỏ, không luyến ái những gì không đáng ưa thích và do sự dứt bỏ ấy, được giải thoát. Rồi tri kiến trở nên sáng tỏ ---- "Ta đã được giải thoát". Vị ấy thấu hiểu rằng dòng sanh tử đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã được thành tựu, những điều phải làm đã được hoàn tất viên mãn, không còn trở lại trạng thái này nữa.

Ðức Thế Tôn giảng giải như vậy và các Tỳ Khưu lấy làm hoan hỉ, tán dương lời dạy của Ngài.

Khi Ðức Phật thuyết xong thời Pháp, tâm của năm vị tỳ khưu đều trở nên hoàn toàn trong sạch, không còn chút ô nhiễm [6].

Bản Anh ngữ: HT Narada (The Buddha and His Teachings)
Bản dịch Việt ngữ: Phạm Kim Khánh (Ðức Phật và Phật Pháp)


Chú thích:

  1. Mahavagga tr. 13; Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ) phần III, tr. 66. Ðây là bài Pháp thứ hai Ðức Phật giảng cho 5 anh em Kiều Trần Như sau khi Ngài đắc đạo (bài Pháp đầu tiên là bài Chuyển Pháp Luân).
  2. Một thực thể không biến đổi tạo nên do một Thần Linh hay phát ra từ một đại hồn (Paramama, tinh hoa của Thần Linh)
  3. Cái được gọi là chúng sanh gồm năm uẩn. Ngoài năm uẩn ấy không có chúng sanh. Nếu bỏ năm uẩn ra sẽ không còn gì tồn tại. Không có linh hồn hay bản ngã trong một uẩn riêng rẻ, không có linh hồn trong năm uẩn hợp lại mà linh hồn cũng không có ngoài năm uẩn ấy.
  4. Ðức Phật giảng giải giống như đoạn trên với thọ, tưởng, hành, thức, và cho thấy rằng không có một linh hồn hay bản ngã trong uẩn nào. Ở đây bản dịch thâu gọn lại.
  5. Vì bị ái dục (tanha) che lấp ta suy tưởng sai lầm: -- đây là của tôi. Bị ngã mạn (mãna) che lấp ta suy tưởng: -- đây là tôi. Bị tà kiến (miccha dithi) che lấp ta suy tưởng: -- đây là tự ngã của tôi. Ðó là ba quan niệm sai lầm (mannana)
  6. Ðó là đắc quả A La Hán.

Chân thành cảm ơn anh TABTT đã có thiện tâm giúp đánh máy lại bài kinh nầy


 

Bản dịch Việt của HT Thích Minh Châu:

 

Vô ngã tướng

(Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66)


 

1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"

4) Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"

5) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"

6) Và này các Tỷ-kheo, vì thọ là vô ngã. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"

7) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu tưởng là ngã, thời tưởng không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được tưởng như sau: "Mong rằng tưởng của tôi như thế này! Mong rằng ưởng của tôi chẳng phải như thế này!"

Và này các Tỷ-kheo, vì tưởng là vô ngã. Do vậy, tưởng đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các tưởng: "Mong rằng tưởng của tôi như thế này! Mong rằng tưởng của tôi chẳng phải như thế này!"

8) Các hành là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu các hành là ngã, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!"

9) Và này các Tỷ-kheo, vì các hành là vô ngã. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!"

10) Thức là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu thức là ngã, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"

11) Và này các Tỷ-kheo, vì thức là vô ngã. Do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"

12) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn!

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

13) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Thọ là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn!

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

14) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tưởng là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn!

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

15) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? các Hành là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn!

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

16) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Thức là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

17) -- Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

18) Phàm thọ gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

19) Phàm tưởng gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

20) Phàm các hành gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

21) Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

22) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

23) Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.


English version:

Samyutta Nikaya, III-66

The Characteristic of Non-self

translated by Bhikkhu Bodhi


 

Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Benares in the Deer Park at Isipatana. There the Blessed One addressed the bhikkhus of the group of five thus: "Bhikkhus!"

"Venerable sir!" those bhikkhus replied. The Blessed One said this:

"Bhikkhus, form is non-self. For if, bhikkhus, form were self, this form would not lead to affliction, and it would be possible to decree to form: 'Let my form be thus; let my form not be thus.' But because form is non-self, form leads to affliction, and it is not possible to decree to form: 'Let my form be thus; let my form not be thus.'

"Feeling is non-self. For if, bhikkhus, feeling were self, this feeling would not lead to affliction, and it would be possible to decree to feeling: 'Let my feeling be thus; let my feeling not be thus.' But because feeling is non-self, feeling leads to affliction, and it is not possible to decree to feeling: 'Let my feeling be thus; let my feeling not be thus.'

"Perception is non-self. For if, bhikkhus, perception were self, this perception would not lead to affliction, and it would be possible to decree to perception: 'Let my perception be thus; let my perception not be thus.' But because perception is non-self, perception leads to affliction, and it is not possible to decree to perception: 'Let my perception be thus; let my perception not be thus.'

"Volitional constructions are non-self. For if, bhikkhus,volitional constructions were self, these volitional constructions would not lead to affliction, and it would be possible to decree to volitional constructions: 'Let my volitional constructions be thus; let my volitional constructions not be thus.' But because volitional constructions are non-self, volitional constructions lead to affliction, and it is not possible to decree to volitional constructions: 'Let my volitional constructions be thus; let my volitional constructions not be thus.'

"Consciousness is non-self. For if, bhikkhus, consciousness were self, this consciousness would not lead to affliction, and it would be possible to decree to consciousness: 'Let my consciousness be thus; let my consciousness not be thus.' But because consciousness is non-self, consciousness leads to affliction, and it is not possible to decree to consciousness: 'Let my consciousness be thus; let my consciousness not be thus.'

"What do you think, bhikkhus, is form permanent or impermanent? "Impermanent, venerable sir." "Is what is impermanent suffering or happiness?" "Suffering, venerable sir." "Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: 'This is mine, this I am, this is my self'?" "No, venerable sir."

"Is feeling permanent or impermanent? "Impermanent, venerable sir." "Is what is impermanent suffering or happiness?" "Suffering, venerable sir." "Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: 'This is mine, this I am, this is my self'?" "No, venerable sir."

Is perception permanent or impermanent? "Impermanent, venerable sir." "Is what is impermanent suffering or happiness?" "Suffering, venerable sir." "Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: 'This is mine, this I am, this is my self'?" "No, venerable sir."

Are volitional constructions permanent or impermanent? "Impermanent, venerable sir." "Is what is impermanent suffering or happiness?" "Suffering, venerable sir." "Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: 'This is mine, this I am, this is my self'?" "No, venerable sir."

"Is consciousness permanent or impermanent?" "Impermanent, venerable sir." "Is what is impermanent suffering or happiness?" "Suffering, venerable sir." "Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: 'This is mine, this I am, this is my self'?" "No, venerable sir."

"Therefore, bhikkhus, any kind of form whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all form should be seen as it really is with correct wisdom thus: 'This is not mine, this I am not, this is not my self.'

"Any kind of feeling whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all feeling should be seen as it really is with correct wisdom thus: 'This is not mine, this I am not, this is not my self.'

"Any kind of perception whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all perception should be seen as it really is with correct wisdom thus: 'This is not mine, this I am not, this is not my self.'

"Any kind of volitional constructions whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all volitional constructions should be seen as it really is with correct wisdom thus: 'This is not mine, this I am not, this is not my self.'

"Any kind of consciousness whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all consciousness should be seen as it really is with correct wisdom thus: 'This is not mine, this I am not, this is not my self.'

"Seeing thus, bhikkhus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with form, disenchanted with feeling, disenchanted with perception, disenchanted with volitional constructions, disenchanted with consciousness. Being disenchanted, he becomes dispassionate. Through dispassion (his mind) is liberated. When it is liberated there comes the knowledge: 'It is liberated.' He understands: 'Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this world.' "

That is what the Blessed One said. Being pleased, those bhikkhus delighted in the Blessed One's statement. And while this discourse was being spoken, the minds of the bhikkhus of the group of five were liberated from the taints by non-clinging.


(Nguồn: https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbkin016.htm) 

Friday, 7 August 2020

Tiểu kinh Màlunkyà

 Trung Bộ Kinh

Majjhima Nikaya

63. Tiểu kinh Màlunkyà
(Cula Màlunkyà sutta)


Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi Tôn giả Malunkyaputta, trong khi độc trú tịnh cư, khởi lên sự suy tư như sau: Có một số vấn đề này, Thế Tôn không trả lời, bỏ một bên, loại bỏ ra: "Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Thế Tôn không trả lời cho ta những vấn đề ấy. Vì Thế Tôn không trả lời cho ta những vấn đề ấy, nên ta không được hài lòng, không được thỏa mãn. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn, và sẽ hỏi ý nghĩa này. Nếu Thế Tôn trả lời cho ta: "Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết; Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời ta sẽ sống Phạm hạnh dưới (sự chỉ dẫn của) Thế Tôn. Còn nếu Thế Tôn không trả lời cho ta: "Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời ta sẽ bỏ học pháp và hoàn tục.

Rồi Tôn giả Malunkyaputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Malunkyaputta bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi độc trú tịnh cư, con khởi lên ý nghĩ như sau: Có một số vấn đề này, Thế Tôn không trả lời, bỏ một bên loại bỏ ra: "Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Thế Tôn không trả lời cho ta những vấn đề ấy. Vì Thế Tôn không trả lời cho ta những vấn đề ấy, nên ta không được hài lòng, không được thỏa mãn. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và sẽ hỏi ý nghĩa này. Nếu Thế Tôn trả lời cho ta: "Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời ta sẽ sống Phạm hạnh dưới (sự chỉ dẫn của) Thế Tôn. Còn nếu Thế Tôn không trả lời cho ta: "Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời ta sẽ bỏ học pháp và hoàn tục.

Nếu Thế Tôn biết: "Thế giới là thường còn", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Thế giới là thường còn". Nếu Thế Tôn biết: "Thế giới là vô thường". Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Thế giới là vô thường". Nếu Thế Tôn không biết: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường", thời không biết, không thấy, hãy thẳng thắn trả lời: "Ta không biết, Ta không thấy".

Nếu Thế Tôn biết: "Thế giới là hữu biên", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Thế giới là hữu biên". Nếu Thế Tôn biết: "Thế giới là vô biên", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Thế giới là vô biên". Nếu Thế Tôn không biết: "Thế giới là hữu biên" hay "Thế giới là vô biên", thời không biết, không thấy, hãy thẳng thắn trả lời: "Ta không biết, Ta không thấy".

Nếu Thế Tôn biết: "Sinh mạng này và thân này là một", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Sinh mạng này và thân này là một". Nếu Thế Tôn biết: "Sinh mạng này và thân này là khác," Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Sinh mạng này và thân này là khác". Nếu Thế Tôn không biết: "Sinh mạng này và thân này là một" hay "Sinh mạng này và thân này là khác", thời không biết, không thấy, hãy thẳng thắn trả lời: "Ta không biết, Ta không thấy".

Nếu Thế Tôn biết: "Như Lai có tồn tại sau khi chết", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Như Lai có tồn tại sau khi chết". Nếu Thế Tôn biết: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết". Nếu Thế Tôn không biết: "Như Lai có tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không có tồn tại sau khi chết", thời không biết, không thấy, hãy thẳng thắn trả lời: "Ta không biết, Ta không thấy".

Nếu Thế Tôn biết: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết". Nếu Thế Tôn biết: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", Thế Tôn hãy trả lời cho con: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Nếu Thế Tôn không biết: "Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết," hay "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời không biết, không thấy, hãy thẳng thắn trả lời: "Ta không biết, Ta không thấy".

-- Này Malunkyaputta, Ta có nói với Ông: Này Malunkyaputta, hãy đến và sống Phạm hạnh theo Ta, Ta sẽ trả lời cho Ông: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Hay Ông có nói với Ta như sau: Bạch Thế Tôn, con sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn, nếu Thế Tôn sẽ trả lời cho con: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Như vậy, này Malunkyaputta, Ta không nói với Ông: Này Malunkyaputta, hãy đến và sống Phạm hạnh theo Ta và Ta sẽ trả lời cho Ông: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", và Ông cũng không nói với Ta: Bạch Thế Tôn, con sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn, nếu Thế Tôn sẽ trả lời cho con: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Sự tình là như vậy, thời này kẻ ngu kia, Ông là ai, và Ông phủ nhận cái gì?

Này Malunkyaputta, nếu có ai nói như sau: Ta sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn khi nào Thế Tôn sẽ trả lời cho ta: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được Như Lai trả lời. Này Malunkyaputta, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ xẻ đến săn sóc. Nhưng người ấy lại nói: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc giòng hoàng tộc, hay Bà-la-môn, hay buôn bán, hay người làm công". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi tên là gì, tộc tánh là gì?" Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi là cao hay thấp, hay người bậc trung". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi là da đen, da sẫm hay da vàng". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc làng nào, thuộc thị trấn nào, thuộc thành phố nào". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái cung mà tôi bị bắn, cái cung ấy thuộc loại cung thông thường hay loại cung nỏ". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được dây cung mà tôi bị bắn, dây cung ấy làm bằng cây leo, hay cây lau, hay một thứ gân, hay một thứ dây gai, hay một thứ cây có nhựa". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy thuộc một loại cây lau này hay cây lau khác". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, mũi tên ấy có kết lông gì, hoặc lông con kên, hoặc lông con cò, hoặc lông con ó, hoặc lông con công, hoặc lông một loại két". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy được cuốn (parikkhittam) bởi loại gân nào, hoặc là gân bò cái, hoặc là gân trâu, hoặc là gân nai, hoặc là gân lừa". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy thuộc loại tên nhọn, hay thuộc loại tên móc, hay thuộc loại tên như đầu sào, hay thuộc loại tên như răng bò, hay thuộc loại tên như kẽm gai". Này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được biết gì.

Cũng vậy, này Malunkyaputta, ai nói như sau: "Ta sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn khi nào Thế Tôn trả lời cho ta: "Thế giới là thường còn" hay "thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được Như Lai trả lời.

Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc với quan điểm "Thế giới là thường còn". Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc với quan điểm "Thế giới là vô thường". Này Malunkyaputta, dầu cho có quan điểm "Thế giới là thường còn", hay dầu cho có quan điểm "Thế giới là vô thường", thời vẫn có sanh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não, mà Ta giảng dạy sự đoạn trừ ngay trong hiện tại.

Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc với quan điểm "Thế giới là hữu biên". Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc với quan điểm "Thế giới là vô biên". Này Malunkyaputta, dầu cho có quan điểm "Thế giới là hữu biên", hay dầu cho có quan điểm "Thế giới là vô biên", thời vẫn có sanh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não mà Ta giảng dạy sự đoạn trừ ngay trong hiện tại.

Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc quan điểm "Sinh mạng này và thân này là một". Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc quan điểm "Sinh mạng này và thân này là khác". Này Malunkyaputta, dầu cho có quan điểm "Sinh mạng này và thân này là một", hay dầu cho có quan điểm "Sinh mạng này và thân này là khác", thời vẫn có sanh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não mà Ta giảng dạy sự đoạn trừ ngay trong hiện tại.

Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc quan điểm "Như Lai có tồn tại sau khi chết". Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc quan điểm "Như Lai không có tồn tại sau khi chết". Này Malunkyaputta, dầu cho có quan điểm "Như Lai có tồn tại sau khi chết" hay dầu cho có quan điểm "Như Lai không có tồn tại sau khi chết", thời vẫn có sanh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não mà Ta giảng dạy sự đoạn trừ ngay trong hiện tại.

Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc vào quan điểm "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết". Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc với quan điểm "Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Này Malunkyaputta, dầu cho có quan điểm "Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết", hay dầu cho có quan điểm "Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời vẫn có sanh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não mà Ta giảng dạy sự đoạn trừ ngay trong hiện tại".

Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những gì Ta không trả lời. Hãy thọ trì là có trả lời những gì Ta có trả lời. Và này Malunkyaputta, điều gì Ta không trả lời? "Thế giới là thường còn", này Malunkyaputta là điều Ta không trả lời. "Thế giới là vô thường" là điều Ta không trả lời. "Thế giới là hữu biên" là điều Ta không trả lời. "Thế giới là vô biên" là điều Ta không trả lời. "Sinh mạng này và thân này là một" là điều Ta không trả lời. "Sinh mạng này và thân này khác" là điều Ta không trả lời. "Như Lai có tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai không có tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta không trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời? "Ðây là khổ", này Malunkyaputta là điều Ta trả lời". "Ðây là khổ tập" là điều Ta trả lời. "Ðây là khổ diệt" là điều Ta trả lời. "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt" là điều Ta trả lời.

Và này Malunkyaputta,vì sao điều ấy Ta trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản Phạm hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, vì vậy điều ấy Ta trả lời. Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những điều Ta không trả lời. Hãy thọ trì là trả lời những điều Ta có trả lời.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Malunkyaputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt


Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử.
(Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ "The Middle Length Discourses of the Buddha", Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995).

Hiệu đính: 16-06-2004


Majjhima Nikaya 63

Cula-Malunkyovada Sutta
The Shorter Instructions to Malunkya

Translation by Bhikkhu Thanissaro

For free distribution only, as a gift of Dhamma


I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Savatthi at Jeta's Grove, Anathapindika's monastery. Then, as Ven. Malunkyaputta was alone in seclusion, this train of thought arose in his awareness: "These positions that are undisclosed, set aside, discarded by the Blessed One -- 'The cosmos is eternal,' 'The cosmos is not eternal,' 'The cosmos is finite,' 'The cosmos is infinite,' 'The soul and the body are the same,' 'The soul is one thing and the body another,' 'After death a Tathagata exists,' 'After death a Tathagata does not exist,' 'After death a Tathagata both exists and does not exist,' 'After death a Tathagata neither exists nor does not exist' -- I don't approve, I don't accept that the Blessed One has not disclosed them to me. I'll go ask the Blessed One about this matter. If he discloses to me that 'The cosmos is eternal,' that 'The cosmos is not eternal,' that 'The cosmos is finite,' that 'The cosmos is infinite,' that 'The soul and the body are the same,' that 'The soul is one thing and the body another,' that 'After death a Tathagata exists,' that 'After death a Tathagata does not exist,' that 'After death a Tathagata both exists and does not exist,' or that 'After death a Tathagata neither exists nor does not exist,' then I will live the holy life under him. If he does not disclose to me that 'The cosmos is eternal,'...or that 'After death a Tathagata neither exists nor does not exist,' then I will renounce the training and return to the lower life."

Then, when it was evening, Ven. Malunkyaputta arose from seclusion and went to the Blessed One. On arrival, having bowed down, he sat to one side. As he was sitting there he said to the Blessed One, "Lord, just now, as I was alone in seclusion, this train of thought arose in my awareness: 'These positions that are undisclosed, set aside, discarded by the Blessed One...I don't approve, I don't accept that the Blessed One has not disclosed them to me. I'll go ask the Blessed One about this matter. If he discloses to me that "The cosmos is eternal,"...or that "After death a Tathagata neither exists nor does not exist," then I will live the holy life under him. If he does not disclose to me that "The cosmos is eternal,"...or that "After death a Tathagata neither exists nor does not exist," then I will renounce the training and return to the lower life.'

"Lord, if the Blessed One knows that 'The cosmos is eternal,' then may he disclose to me that 'The cosmos is eternal.' If he knows that 'The cosmos is not eternal,' then may he disclose to me that 'The cosmos is not eternal.' But if he doesn't know or see whether the cosmos is eternal or not eternal, then, in one who is unknowing and unseeing, the straightforward things is to admit, 'I don't know. I don't see.'...If he doesn't know or see whether after death a Tathagata exists...does not exist...both exists and does not exist...neither exists nor does not exist,' then, in one who is unknowing and unseeing, the straightforward things is to admit, 'I don't know. I don't see.'"

"Malunkyaputta, did I ever say to you, 'Come, Malunkyaputta, live the holy life under me, and I will disclose to you that 'The cosmos is eternal,' or 'The cosmos is not eternal,' or 'The cosmos is finite,' or 'The cosmos is infinite,' or 'The soul and the body are the same,' or 'The soul is one thing and the body another,' or 'After death a Tathagata exists,' or 'After death a Tathagata does not exist,' or 'After death a Tathagata both exists and does not exist,' or 'After death a Tathagata neither exists nor does not exist'?"

"No, lord."

"And did you ever say to me, 'Lord, I will live the holy life under the Blessed One and [in return] he will disclose to me that 'The cosmos is eternal,' or 'The cosmos is not eternal,' or 'The cosmos is finite,' or 'The cosmos is infinite,' or 'The soul and the body are the same,' or 'The soul is one thing and the body another,' or 'After death a Tathagata exists,' or 'After death a Tathagata does not exist,' or 'After death a Tathagata both exists and does not exist,' or 'After death a Tathagata neither exists nor does not exist'?"

"No, lord."

"Then that being the case, foolish man, who are you to be claiming grievances/making demands of anyone?

"Malunkyaputta, if anyone were to say, 'I won't live the holy life under the Blessed One as long as he does not disclose to me that "The cosmos is eternal,"...or that "After death a Tathagata neither exists nor does not exist,"' the man would die and those things would still remain undisclosed by the Tathagata.

"It's just as if a man were wounded with an arrow thickly smeared with poison. His friends and companions, kinsmen and relatives would provide him with a surgeon, and the man would say, 'I won't have this arrow removed until I know whether the man who wounded me was a noble warrior, a priest, a merchant, or a worker.' He would say, 'I won't have this arrow removed until I know the given name and clan name of the man who wounded me...until I know whether he was tall, medium, or short...until I know whether he was dark, ruddy-brown, or golden-colored...until I know his home village, town, or city...until I know whether the bow with which I was wounded was a long bow or a crossbow...until I know whether the bowstring with which I was wounded was fiber, bamboo threads, sinew, hemp, or bark...until I know whether the shaft with which I was wounded was wild or cultivated...until I know whether the feathers of the shaft with which I was wounded were those of a vulture, a stork, a hawk, a peacock, or another bird...until I know whether the shaft with which I was wounded was bound with the sinew of an ox, a water buffalo, a langur, or a monkey.' He would say, 'I won't have this arrow removed until I know whether the shaft with which I was wounded was that of a common arrow, a curved arrow, a barbed, a calf-toothed, or an oleander arrow.' The man would die and those things would still remain unknown to him.

"In the same way, if anyone were to say, 'I won't live the holy life under the Blessed One as long as he does not disclose to me that 'The cosmos is eternal,'...or that 'After death a Tathagata neither exists nor does not exist,' the man would die and those things would still remain undisclosed by the Tathagata.

"Malunkyaputta, it's not the case that when there is the view, 'The cosmos is eternal,' there is the living of the holy life. And it's not the case that when there is the view, 'The cosmos is not eternal,' there is the living of the holy life. When there is the view, 'The cosmos is eternal,' and when there is the view, 'The cosmos is not eternal,' there is still the birth, there is the aging, there is the death, there is the sorrow, lamentation, pain, despair, and distress whose destruction I make known right in the here and now.

"It's not the case that when there is the view, 'The cosmos is finite,' there is the living of the holy life. And it's not the case that when there is the view, 'The cosmos is infinite,' there is the living of the holy life. When there is the view, 'The cosmos is finite,' and when there is the view, 'The cosmos is infinite,' there is still the birth, there is the aging, there is the death, there is the sorrow, lamentation, pain, despair, and distress whose destruction I make known right in the here and now.

"It's not the case that when there is the view, 'The soul and the body are the same,' there is the living of the holy life. And it's not the case that when there is the view, 'The soul is one thing and the body another,' there is the living of the holy life. When there is the view, 'The soul and the body are the same,' and when there is the view, 'The soul is one thing and the body another,' there is still the birth, there is the aging, there is the death, there is the sorrow, lamentation, pain, despair, and distress whose destruction I make known right in the here and now.

"It's not the case that when there is the view, 'After death a Tathagata exists,' there is the living of the holy life. And it's not the case that when there is the view, 'After death a Tathagata does not exist,' there is the living of the holy life. And it's not the case that when there is the view, 'After death a Tathagata both exists and does not exist,' there is the living of the holy life. And it's not the case that when there is the view, 'After death a Tathagata neither exists nor does not exist' there is the living of the holy life. When there is the view, 'After death a Tathagata exists'...'After death a Tathagata does not exist'...'After death a Tathagata both exists and does not exist'...'After death a Tathagata neither exists nor does not exist,' there is still the birth, there is the aging, there is the death, there is the sorrow, lamentation, pain, despair, and distress whose destruction I make known right in the here and now.

"So, Malunkyaputta, remember what is undisclosed by me as undisclosed, and what is disclosed by me as disclosed. And what is undisclosed by me? 'The cosmos is eternal,' is undisclosed by me. 'The cosmos is not eternal,' is undisclosed by me. 'The cosmos is finite'...'The cosmos is infinite'...'The soul and the body are the same'...'The soul is one thing and the body another'...'After death a Tathagata exists'...'After death a Tathagata does not exist'...'After death a Tathagata both exists and does not exist'...'After death a Tathagata neither exists nor does not exist,' is undisclosed by me.

"And why are they undisclosed by me? Because they are not connected with the goal, are not fundamental to the holy life. They do not lead to disenchantment, dispassion, cessation, calming, direct knowledge, self-awakening, Unbinding. That's why they are undisclosed by me.

"And what is disclosed by me? 'This is stress,' is disclosed by me. 'This is the origination of stress,' is disclosed by me. 'This is the cessation of stress,' is disclosed by me. 'This is the path of practice leading to the cessation of stress,' is disclosed by me. And why are they disclosed by me? Because they are connected with the goal, are fundamental to the holy life. They lead to disenchantment, dispassion, cessation, calming, direct knowledge, self-awakening, Unbinding. That's why they are disclosed by me.

"So, Malunkyaputta, remember what is undisclosed by me as undisclosed, and what is disclosed by me as disclosed."

That is what the Blessed One said. Gratified, Ven. Malunkyaputta delighted in the Blessed One's words.


Source: Access-to-Insight, http://world.std.com/~metta/canon/majjhima/mn63.html


(Nguồn trích dẫn: https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbkin066.htm)

Kinh Lá Rừng Simsapa

 Tương Ưng Bộ, SN LVI.31

Kinh Lá Rừng Simsapa

HT Minh Châu dịch


 

Giới thiệu: Ðây là bài kinh rất phổ thông cho các Phật tử. Ðức Phật dạy tuy rằng Ngài biết rất nhiều nhưng Ngài chỉ giảng dạy những gì cần thiết để giác ngộ.

Tương Ưng Bộ, SN LVI.31

Kinh Lá Rừng Simsapa

Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà. Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo :

-- "Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?"

-- "Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà."

-- "Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra! Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.

"Và này các Tỷ-kheo, điều gì mà Ta nói ? 'Ðây là Khổ', này các Tỷ-kheo, là điều Ta nói. 'Ðây là Khổ tập', là điều Ta nói. 'Ðây là Khổ diệt', là điều Ta nói. 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', là điều Ta nói.

"Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.

"Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết : 'Ðây là Khổ', một cố gắng cần phải làm để rõ biết : 'Ðây là Khổ tập', một cố gắng cần phải làm để rõ biết : 'Ðây là Khổ diệt', một cố gắng cần phải làm để rõ biết : 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'".

Samyutta Nikaya LVI.31

The Simsapa Leaves

Once the Blessed One was staying at Kosambi in the Simsapa forest. Then, picking up a few Simsapa leaves with his hand, he asked the monks:

-- "How do you construe this, monks: Which are more numerous, the few Simsapa leaves in my hand or those overhead in the Simsapa forest?"

-- "The leaves in the hand of the Blessed One are few in number, lord. Those overhead in the forest are far more numerous."

-- "In the same way, monks, those things that I have known with direct knowledge but have not taught are far more numerous [than what I have taught]. And why haven't I taught them? Because they are not connected with the goal, do not relate to the rudiments of the holy life, and do not lead to disenchantment, to dispassion, to cessation, to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding. That is why I have not taught them.

"And what have I taught? 'This is stress...This is the origination of stress...This is the cessation of stress...This is the path of practice leading to the cessation of stress': This is what I have taught.

And why have I taught these things? Because they are connected with the goal, relate to the rudiments of the holy life, and lead to disenchantment, to dispassion, to cessation, to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding. This is why I have taught them.

"Therefore your duty is the contemplation, 'This is stress...This is the origination of stress...This is the cessation of stress.' Your duty is the contemplation, 'This is the path of practice leading to the cessation of stress.'"

HT Minh Châu dịch Việt

English translation by Bhikkhu Thanissaro

Monday, 1 June 2020

QUÁN TU TỨ NIỆM XỨ - THẦY THÍCH BẢO NGUYÊN


Tứ Niệm Xứ là pháp cốt lõi của đạo Phật. Một thời gian ngắn như thế này, thầy không thể phân tích rộng rãi thêm, thầy chỉ phân tích cô đọng như vậy. Sau này mình tu tập thì mình dựa trên những điều thầy phân tích để mình quán ra cho nó rộng hơn. Mình càng quán rộng nhiều chừng nào thì cái phiền não, kiết sử: tham - sân - si - mạn - nghi của mình nó nhanh đoạn diệt lắm. 


Phật tử hỏi: Xin thầy cho con hỏi quán thân là thế nào để con rõ ràng để con tập, hành quán thân, thọ, tâm pháp ạ?

Thầy Bảo Nguyên trả lời:

Trong pháp Tứ Niệm Xứ, đức Phật dạy mình quán 4 chỗ Thân – Thọ –Tâm – Pháp. Trước hết mình phải định nghĩa quán 4 chỗ thân, thọ, tâm pháp. Quán là mình hiểu ra sự thật 4 chỗ thân, thọ, tâm, pháp.

Thí dụ như là quán thân. Khi nói đến quán thân, đức Phật chỉ cho thân ngũ uẩn: sắc – thọ – tưởng – hành – thức. Đức Phật dùng từ: “thân này là u nhọt, thân này là bệnh tật, thân này là người lạ, thân này là vô thường, vô ngã, không có gì là ta, là của ta". Cái thân này khi mình còn sống, nó là thức nhận biết, nhận thức thôi chứ nó không có thường hằng, thường còn.

Phật tử hỏi: Phật dạy mình quán nó vô thường à thầy?

Quán nó vô thường thôi. Khi mình còn sống thì mình nhận biết mọi điều xung quanh. Khi mình mất đi, nó không còn thức, nghĩa là nó không còn ngũ uẩn: sắc – thọ – tưởng – hành – thức thì đức Phật nói  cái thân này trở thành vô tri vô giác, như khúc gỗ vô dụng, không có nghĩa lý gì cả. Chính vì nó vô tri vô giác, nó không còn cảm xúc, còn biết cái gì, Phật dạy rằng nó là vô ngã – không phải là của mình. Vì khi chết, đâu còn cái gì, nó trở thành khúc gỗ, vô tri vô giác.

Phật tử hỏi: Vô thường với Vô ngã cũng gần gần giống nhau ạ?

Vô thường là nó luôn thay đổi, chịu sinh diệt, không cố định. Thí dụ như ngày hôm qua mình vui, hôm nay mình buồn, đó là các hành vô thường. Hoặc lúc mình sinh ra, bây giờ mình lớn lên theo thời gian năm tháng nó thay đổi, đó là Vô thường. Hoặc là trước đây tóc mình đen, giờ nó bạc. Đó là sự Vô thường. Nó sinh ra rồi nó sẽ diệt, nó không trở lại ban đầu. Thí dụ lúc mình còn nhỏ, bây giờ cái tuổi nhỏ không còn nữa, nó lớn lên. Bây giờ mình muốn trở lại ban đầu cũng không được. Đó là sự Vô thường.

Khi nào thay đổi liên tục, đến lúc cái thân này nó hoại diệt sạch, không còn 1 cái cảm thọ khổ vui nào trên thân này nữa. Cho nên khi nói đến quán thân để tâm mình hướng đến sự Vô ngã là nó không còn chấp cái thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Thí dụ trước đây mình hay chấp cái thân này là của tôi. Ai chê mình xấu, nó buồn liền. Nhóc này xấu quá, chị này xấu quá, cô này xấu quá. Khi người ta chê mình như vậy, trong lòng nó giận liền. Nó tự ái, nó buồn. Đó là khổ. Vì chấp cái thân này là tôi, là của tôi. Khi người ta nói đến, đụng chạm đến cái thân này là xấu đẹp, chê mình thì nó buồn. Vì nó chấp cái thân này là của nó mà nó có cái nghiệp buồn khổ. Con người ta buồn khổ là do chấp.

Vì vậy đức Phật dạy mình: Quán thân trên thân để khắc phục tham ưu. Nghĩa là khi mình quán cái thân này là bất tịnh, là ô uế, đầy đủ những cái bất tịnh trong cái thân này. Khi mình hiểu ra cái thân bất tịnh, ô uế, vô thường như vậy thì tự nhiên mình nhàn chán. Người ta chê mình xấu thì mình cũng đâu có thấy mình đẹp đâu. Mình có lớp da bên ngoài sáng bóng, mình trang điểm, mặc đồ đẹp thì mình thấy nó đẹp, nhưng cái đẹp này chẳng qua là cái lớp da bên ngoài. Thực chất bên trong nó đầy những cái bất tịnh. Cho nên Phật dạy mình quán bất tịnh là như vậy.

Nào là đờm rãi, nước bọt, nước miếng, phân, nước tiêu, máu, mủ, lông, tóc, v.v... Khi mình quán ra sự bất tịnh như vậy thì mình không còn chấp cái thân này là đẹp nữa. Sở dĩ con người ta khổ vì người ta chấp cái đẹp, người ta tham mình là đẹp. Dù cho người ta có xấu đi chăng nữa họ cũng nghĩ họ đẹp. Bây giờ người ta chê họ xấu thì họ khổ liền. Chính vì vậy mà sinh ra phiền não, vì có cái tâm chấp thân mà sinh ra phiền não.

Trong cái phần 5 xan tham, đức Phật dạy mình xan tham danh sắc. Xan tham là cái tâm ích kỉ, mình muốn mình đẹp, mình sợ mình xấu, hoặc mình muốn người ta khen mình đẹp. Khi mình có cái tâm muốn như vậy, cái tâm đó gọi là xan tham danh sắc. Người nào còn sống với tâm này thì nó sẽ khổ.
Thí dụ cái thân này nó già, nó nhăn nheo, nó không còn sáng nữa thì nó sẽ khổ. Cho nên người nào thích đẹp nhiều chừng nào thì họ sợ già lắm. Họ mặc cảm cái thân xấu của họ. Để mà nó không xấu người ta phải dùng thuốc bôi lên làm cho nó sáng ra, trẻ ra. Đó là cái cách người ta làm đẹp, nhưng nó cũng chỉ là một giai đoạn ngắn thôi, rồi sự tàn phai vô thường, lão hóa của cái thân này từ từ sẽ đến, khó tránh khỏi. Cho nên đức Phật nói: 
“Già nua lại đến nơi, 
Nó không chịu dừng bước, 
Ai đem tâm quán chiếu, 
Sợ hãi tử vong này, 
Hãy từ bỏ thế lợi, 
Tâm trú vào tịch tĩnh.”

Già nua lại đến nơi, nó không chịu dừng bước. Tuổi thọ con người có giới hạn. Bây giờ đẹp, mai mốt nó già rồi nó hết đẹp thì cái điều này là tất nhiên, không ai can ngăn được, không ai làm cho nó chậm hoặc dừng lại được. Sự thật cái thân vô thường già nua là như vậy.

Cho nên khi đức Phật dạy mình quán cái thân này là bệnh tật, là u nhọt, là người lạ, là vô thường, là vô ngã để mình xả cái chấp thân này, để mình không còn khổ về thân này. Nếu lỡ mình có xấu thì mình là nó cũng bất tịnh ô uế, đâu có gì đẹp đâu mà mình mong cho nó đẹp. Hoặc nếu cái thân này nó đẹp thì mình nói rằng nó cũng vô thường, bên trong là bất tịnh, là ô uế, là đờm rãi, là máu mủ, v.v… Khi mình biết ra cái sự bất tịnh, vô thường, không thật như vậy thì cái đẹp này nó không còn chấp. Lỡ ai có chê mình xấu thì mình biết rằng nó là như vậy rồi, bản chất nó là xấu bản chất nó là bất tịnh hôi thối đâu có gì là đẹp đâu. Đẹp chẳng qua là mình ăn mặc chưng diện cho nó tươm tất nên mình thấy nó đẹp, nó là cái hoàng nhoáng bên ngoài, nhưng bên trong nó cũng là bất tịnh cả. Khi mình quán ra cái sự thật cái thân bất tịnh, vô thường, vô ngã như vậy thì cái chấp vào đẹp xấu biến mất liền. Phiền não trên cái thân này đoạn diệt liền. Cái đó phật gọi là quán thân trên thân để khắc phục tham ưu. Con người phiền não, tham ưu là do chấp cái thân đẹp, hoặc chấp cái thân này là của tôi. Nếu lỡ cái thân này nó có bệnh thì người ta chấp nó, sợ cái thân này nó chết, sơ khổ, sợ đủ thứ hết.

Nên đức Phật dạy mình cái thân này nó là vô thường, vô ngã, bây giờ mình còn sống thì nó còn thức, đói phải ăn, khát phải uống, bệnh phải đau, đó là lẽ tất nhiên mà. Nhưng cái bệnh đau này, già chết này nó cũng vô thường, đâu có gì là thường đâu. Bây giờ mình mạnh khỏe thì mai mốt nó già đi nó cũng yếu. Khi cái thân này nó mất đi thì dù bệnh đau hay không bệnh đau đâu còn nói chuyện gì nữa. Khi cái thân này thức nó diệt sạch, không còn ngũ uẩn: sắc – thọ – tưởng – hành – thức thì khái niệm đẹp xấu, tốt xấu cái thân này không còn giá trị.

Cho nên khi đức Phật dạy mình quán thân trên thân để khắc phục tham ưu, hiểu ra cái sự vô thường giả tạo như vậy thì mình không nên chấp cái thân này thì ngay đó mình nhàm chán cái thân giả tạo vô thường, không có gì là thường cả thì mình buông xả cái thân chấp vào cái thân này thì ngay đó phiền não đoạn diệt. Cái đó Phật gọi là quán: quán thân trên thân để khắc phục tham ưu. Mình nhìn cái thân này, biết cái thân này là như thế để mình xả. Nếu ai mà tu tập cái pháp này, quả là tuyệt diệu. Người này không còn phiền não cái thân này.

Cái phần thứ 2 là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Nói về thọ, ở đâu mình phải định nghĩa rõ chút xíu. Quán thọ trên thọ nghĩa là trên cái thân này nó có 3 cảm thọ: thọ khổ – thọ lạc – thọ bất lạc bất khổ.  Nghĩa là cái thọ này bản chất nó là vô thường, nó không có gì là ta là của ta, nó tương đối lắm. Thí dụ hôm nay mình có bệnh khổ đau đến với cái thân này, vài ngày sau cái thân bệnh tật này nó cũng hết, Đó là cảm thọ nó thay đổi, nó tương đối lắm. Vì vậy trong bài kinh Tiểu vương quả có đoạn nói rằng lạc thọ lấy khổ thọ làm tương đương, khổ thọ lấy lạc thọ làm tương đương. Có chấp cái vui cái buồn, bây giờ mình vui thì mai mốt mình cũng buồn. Vui đó, rồi cũng buồn đó. Buồn đó, rồi cũng vui đó. Đó là cái sự tương đối giữa thọ lạc và thọ khổ. Nó vô thường là vậy. Cho nên Phật dạy: quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu.

Trên 3 cảm thọ này bản chất nó là vô thường, không có gì là ta là của ta, nó luôn thay đổi từng sát na, từng giờ phút, từng ngày tháng. Khi mình quán ra cái sự thật như vậy thì tự nhiên cái tâm chấp vào cảm thọ lạc cũng không còn. Thí dụ người ta đến khen, mình biết rằng 1 lát người ta cũng đi, đâu còn khen, nó cũng vô thường mà. Khi biết như vậy thì mình nói thôi không nên chấp nó, không nên mừng. Đó là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu.

Người ta khen mình mừng, đó là cảm thọ lạc. Người ta khen mình mình còn vui còn chấp thì mình còn tham ưu. Ở đây Phật dạy mình không chấp nó, có lạc đến thì xả nó nhưng tâm mình không mong cầu, đó là xả lạc. Gọi là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Hoặc là người ta đến chê mình, xúc phạm mình, có tâm nghe người ta chê thì mình cảm thấy khó chịu. Cái cảm giác khó chịu Phật gọi là thọ khổ. Mình cũng quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Mình quán rằng cái người chê mình 1 lát người ta cũng đi, nó cũng vô thường thay đổi mà. Người này có nhân quả với mình, người ta chê mình, xúc phạm mình, đối xử không tốt với mình. Đó là nợ nhân quả với mình. Và nhân quả này nó cũng vô thường thay đổi, đủ duyên thì hợp hết duyên thì tan. Khi mình quán ra sự thật nhân quả thay đổi vô thường như vậy thì cảm thọ khổ, cái tiếng người ta chê biến mất liền. Nó không còn chấp vào cái lời người ta chê mình, chửi mừng. Cái đó Phật gọi là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Nó về cảm thọ khổ thì nó nhiều lắm. Thầy chỉ đưa ra những hình ảnh, ví dụ ngắn gọn như vậy, nhưng trong cuộc sống nó nhiều lắm.

Thí dụ khi mình ăn món ăn ngon thì sinh ra sự ưa thích. Nếu mình đắm nhiễm, dính mắc nó thì đó là tham ưu. Phật dạy mình quán thức ăn này là bất tịnh, bây giờ nó ngon chẳng qua là do cái vị giác nó cảm nhận thức ăn ngon, khi vào cổ rồi thức ăn này cũng là bất tịnh. Dù bất cứ món ăn ngon nào khi qua khỏi cổ rồi nó cũng bất tịnh. Khi mình quán ra cái sự bất tịnh vô thường như vậy thì ngay đó mình không còn chấp vào cái ngon. Cái đó gọi là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu.

Hoặc khi mình ăn thức dở, người này nấu dở quá, tâm phiền não, canh thì nhạt, đồ kho cũng nhạt, cơm thì nhão nhoẹt hoặc khô. Khi mình ăn mà thức ăn, cơm nó như vậy thì cái tâm mình cảm thấy không hoan hỉ. Tâm không hoan hỉ khởi lên tâm khó chịu: cơm thì nhão, đồ kho thì nhạt, canh thì không có hương vị gì hết, sao mà ăn. Nên ăn mà mình than vãn như vậy, phiền não như vậy, cái đó gọi là thọ khổ. Nó là phiền não luôn đó. Con người dễ bị cái đó lắm. Cho nên Phật dạy mình phải quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Lỡ mình ăn thức ăn dở thì Ngài dạy mình quán nó cũng là bất tịnh, ngon dở chẳng qua nó là vị giác, miễn là nó đủ dinh dưỡng là được rồi, ăn để mình sống, sống để tu tập. Khi mình quán ra sự thật dù thức ăn dở như vậy nhưng rồi nó cũng bất tịnh, mình không nên chấp nó. Khi hiểu ra như vậy thì cái tâm phiền não thức ăn này nó tan biến, không còn chấp vào thức ăn. Cái đó gọi là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Nó hiểu ra cái sự thật như vậy. 
Khi mình quán ra mình hiểu ra cái thọ vô thường, bất tịnh, không có gì là của ta thì ngay đó cái tâm mình nó nhàm chán, dù có ngon hay dở nó không còn khen chê, cái tâm đó Phật gọi là Trung đạo. Nói về cái trạng thái tâm trung đạo, một bên ngon cũng không chấp, một bên dở cũng không chấp, ăn để sống, sống để tu tập, không chấp ngon dở, cái tâm đó Phật gọi là Trung đạo. Đến đây phiền não về thọ khổ hoặc thọ lạc cũng không còn luôn.

Cái phần thứ 3: Quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Cái tâm ở đây chỉ cho cái biết. Cái biết trong thân ngũ uẩn gồm có 6 thức: nhãn thức – nhĩ thức – tỷ thức – thiệt thức – thân thức – ý thức. Nó có 6 cái thức đó. Thức cũng là tâm, cái biết cũng là tâm. Trong 6 thức này, nhiệm vụ nó là cái biết thôi. Nó phân định phân biệt mọi điều khác nhau, thí dụ như nhãn thức, khi mình nhìn mọi hình sắc, mình biết nó, mình thấy nó. Hoặc tai mình nghe tiếng, mình nhận biết mọi tiếng gọi là thức. Hoặc mũi mình ngửi hương, lưỡi mình nếm vị, thân mình xúc chạm, ý mình đang suy nghĩ điều thiện ác gì tốt xấu gì thì nó biết ra. Cái đó gọi là thức. Trên 6 thức này thì mình phải quán, mình xem nó còn có phiền não hay không. Mà phiền não thuộc về ngũ triền cái gồm có tham – sân – si – mạn – nghi. Trên 6 thức này nó còn các triền cái: tham – sân – si – mạn – nghi nào không. Phật gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Quán tâm là 6 cái biết: nhãn thức – nhĩ thức – tỷ thức – thiệt thức – thân thức – ý thức. Mình quán trên 6 thức đó. Trên 6 thức này nó có triền cái tham sân si mạn nghi hay không. Cái đó gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Nó khắc phục cái triền cái tham sân si mạn nghi. Thí dụ thiệt thức, khi mình ăn, nếu mình tham chấp, nó thuộc triền cái tham. Thọ lạc, mình chấp nó – gọi là tham. Nếu mình ăn dở, mình phiền não đó – nó thuộc về thọ khổ – thuộc về triền cái sân.  

Như vậy 6 thức khi mình tiếp xúc với 6 trần: sắc – thanh – hương – vị - xúc – pháp mà nó còn sinh ra cái triền cái tham – sân – si – mạn – nghi, cái tâm đó gọi là tham ưu. Mình khắc phục cái tham ưu cái triền cái, chứ mình không có diệt cái thức nha. Khi nói đến quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu, Phật dạy mình khắc phục là mình diệt cái triền cái tham sân si mạn nghi trên 6 thức: nhãn thức – nhĩ thức – tỷ thức – thiệt thức – thân thức – ý thức.

Thí dụ mắt mình thấy sắc. Mình thấy cảnh sắc, cảnh đẹp cũng có cảnh xấu cũng có. Trong kinh Phật dạy mình quán về cái sắc pháp, bây giờ nó đẹp rồi nó cũng sẽ tàn, bây giờ nó xấu rồi nó cũng vô thường. Mọi cái sắc pháp gì mình quan sát được, mình biết được nó cũng đều là sinh diệt,vô thường. Khi hiểu ra cái sự thật như vậy, cái nhãn thức này mình không còn chấp vào nó nữa, mình không còn ưu thích vào nó nữa. Cái đó gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Nghĩa là trên 6 thức này nó sinh ra cái tham ưu nào thì mình quán để mình xả cái tâm triền cái.

Thí dụ trên tâm mình nó có tham ưu là đói bụng. Đói bụng thuộc về thọ khổ. Chưa đến giờ ăn nó đói bụng. Người đói bụng dễ sinh phiền não, bực dọc cáu gắt. Cho nên khi cái thân này nó có cảm thọ khổ đói bụng nó sinh ra phiền não liền, nó thuộc về tâm sân đó. Cho nên trước cảm thọ khổ này thì mình có sân phiền não thì mình quán nó: thôi cái thân này nó cũng vô thường, bây giờ nó đói nó thèm ăn rồi, nhưng qua cái giờ đói rồi nó cũng hết. Cái thân mình là cái thân sinh lý vật lý, khi đến giờ đó mình ăn, nếu mình ăn vào nó không có đói. Lý do là dịch vị tiết ra a-xít để tiêu hóa thức ăn, nếu không có thức ăn nó tạo cảm giác xót ruột. Nhưng quá thời gian đó nó không tiết ra a-xít nữa thì nó còn xót ruột không. Cơ thể vật lý mình nó là như vậy. Ví dụ như là cái giờ chiều mình ăn, đến cái giờ đó là nó tiết ra axit, trong bao tử nó tiết ra dịch vị a-xít để tiêu hóa thức ăn. Khi mình không ăn cái dịch vị này làm cho mình cảm giác cồn cào xót ruột đói bụng. Đó là cái thân vật lý bình thường. Nhưng qua giờ đó nếu mình không ăn vào thì cái dịch vị này nó không tiết ra nữa. Khi mình không ăn nữa thì nó không còn thèm thuồng nữa.

Cho nên cái cảm thọ khổ, xót ruột đói khát cồn cào là cái thân vật lý, thân sinh lý bình thường của nó. Nếu mình hiểu rằng qua cái giờ đó nó hết, thôi mình hãy hoan hỉ bằng lòng, kham nhẫn vượt qua, mình không nên phiền não cái cảm giác đói bụng cồn cào, để mình không sinh ra cái tâm sân, gọi là triền cái sân. Cho nên Phật gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Trên cái thân thức này, gọi là tâm, lỡ cái thân này nó xót ruột cồn cào, nó sinh ra cái tâm phiền não – sân – phát triển thì mình quán rằng xót ruột này cũng là vô thường. Bây giờ đến giờ nó tiết ra dịch vị a-xít, không có rồi nó cũng hết, nó bình thường trở lại.

Khi mình quán tâm trên tâm mình hiểu ra cái tâm như vậy, cái cảm thọ như vậy, sự vô thường như vậy thì mình xả nó không có chấp nó. Cho nên khi mình tu tập Tứ Niệm Xứ đức Phật chúng ta từng phần quán là như vậy. Tất cả nó chỉ nằm ở trên cái thân ngũ uẩn của mình: sắc thọ tưởng hành thức. Hoặ claf quan tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Trong 6 thức nó có ý thức, ý thức là những cái suy nghĩ của mình. Khi mình suy nghĩ thiện nó làm cho mình hạnh phúc. Khi mình suy nghĩ ác nó làm cho mình đau khổ. Cái này nó cũng thuộc về tâm. Cái tâm mình đang suy nghĩ chuyện vui buồn đó là cái biết thôi.

Trong thân ngũ uẩn của mình nó gồm có sắc –  thọ – tưởng – hành – thức. Trong đó nó có tưởng thức. Tưởng thức là gì? Thí dụ như là khi mình đang suy nghĩ vấn đề gì đó, mình đang nghĩ nhớ vấn đề gì đó, khi mình vừa suy nghĩ xong thì nó lưu trữ cái điều suy nghĩ đó vào tàng thức. Bây giờ gọi là tàng thức, còn ngày xưa Phật gọi là thức an trú. Nghĩa là trên 6 thức: mắt tai mũi miệng thân ý, khi mình tiếp xúc với 6 trần: sắc thanh hương vị xúc pháp. Mình biết được các sắc pháp đó thì lập tức nó lưu trữ lại trong tàng thức của ta. Bây giờ người ta dùng cái từ tàng thức, còn thời Phật Phật dùng từ: thức an trú. 

Giống như cái máy vi tính, khi mình làm việc trên cái hệ điều hành của máy vi tính thì bộ nhớ của nó có 2 phần, bộ nhớ RAM và bộ nhớ ROM. Bộ nhớ RAM là bộ nhớ tạm, ví dụ mình đang làm việc gì trên máy vi tính, nó lưu giữ lại hết, nó không mất. Và khi mình làm xong mình không có save thì những dữ liệu thông tin này sẽ mất. Còn nếu mình save mình lưu giữ lại trong ROM ổ cứng thì dữ liệu mình nó còn. Thì như vậy bộ nhớ RAM là nhớ tạm, chỉ cho ý thức của ta nó đang suy nghĩ vấn đề gì thì lập tức nó lưu trữ lại tạm đó, khi nó lưu trữ lại nếu mình chấp vào cái việc đó, thí dụ mình nói với người này mà người này không nghe thì mình giận lên. Cái ý thức của mình nó cứ chấp chặt vào cái điều người ta nói không nghe. Khi mình chấp vào đó là nó lưu trữ lại trong bộ nhớ ROM liền, gọi là tàng thức. Khi nó lưu trữ lại như vậy thì thời gian mấy ngày sau nó sẽ nhớ lại cái hoàn cảnh ngày hôm trước. Lý do là mình đã lưu trữ lại trong tàng thức thì khi có thời gian có điều kiện cái tàng thức này nó sẽ phục vụ cho cái ý thức của ta. 

Vì vậy thỉ thoảng trong tâm mình nó cứ nhớ nghĩ những chuyện đã qua. Cái chuyện gì đã qua mấy ngày trước đó, mấy tháng trước đó, mấy năm trước đó nó lưu trữ trong tàng thức của mình. Khi có điều kiện, có nhân duyên thì nó tái hiện lại các hoàn cảnh. Nếu mình vô minh, tham sân si, mình tiếp tục chấp nó nữa, mình buồn mình giận người đó, cái tâm đó gọi là tham ưu. Lúc mình suy nghĩ chuyện đã qua nó chỉ là thức thôi. Phật gọi là tưởng thức. Nó thu thập tất cả các thông tin các hành động nhân quả nghiệp của mình trước đây. Nó lưu trữ lại trong tàng thức. Thỉnh thoảng nó nhớ lại những điều đó. Khi nó nhớ nếu mình không có tu, mình chấp theo nó là mình khổ liền. Còn nếu mình biết tu thì mình quán rằng thôi nhân quả là vô thường, người này trước đây họ xấu ác với mình, đó là nghiệp duyên nợ nhân quả của mình, bây giờ họ không còn nữa, mình xả đi đừng có chấp. Cho nên Phật nói quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, quá khứ đã đoạn tận, tương lai lại chưa đến, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây, bất động không lung lay, hãy tu tập như thế.

Nghĩa là những hoàn cảnh nhân quả xấu tốt gì đã qua thì Phật nói nó sinh diệt vô thường không tồn tại, và những chuyện gì chưa đến thì mình đừng ước vọng, mong muốn. Nếu mình ước vọng mong muốn thì mình khổ. Cho nên Phật dạy: "quá khứ không truy tìm. tương lai không ước vọng". Mình cứ an trú ngay hiện tai này. Mình biết rằng các pháp là vô thường, sinh diệt, tâm này hãy xả đi. Thôi hãy xả không chấp nữa, không mong cầu nữa. Khi mình tác ý xả như vậy thì trong suy nghĩ, vọng tưởng của mình nó không còn đau khổ, nó không còn triền cái: tham - sân - si - mạn - nghi tác động vào 6 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức ý thức. Trong đó có ý thức. Dù mình có suy nghĩ chuyện tốt xấu gì đó nhưng mình hiểu nó hết, nhân quả là vô thường, khổ vui là vô thường, đâu có gì mà thường chấp làm gì, xả hết.

Khi mình quán tâm trên tâm mình hiểu ra cái bản chất tâm như vậy thì lập tức mình không còn đau khổ với nó nữa. Cái đó Phật gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Cho nên nói đến tâm là cái biết, mà cái biết chỉ cho 6 cái biết: mắt tai mũi miệng thân ý. Trên 6 cái biết này mà nó còn cái tham ưu, triền cái tham sân si mạn nghi nào thì ngay đó mình quán nó để mình xả cái tham ưu này. Đó là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu.

Phần thứ 4 là quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu. Trong quán pháp trên pháp nó cũng có 2 phần: thứ nhất Pháp chỉ chung cho tất cả pháp. Thân mình nó cũng là 1 pháp. Sắc thọ tưởng hành thức cũng là pháp. Nói về pháp thì nó chỉ chung cho tất cả. Trong đó nó có 2 pháp: pháp thiện và pháp ác. Thí dụ người này họ đến chê mình, nó là pháp ác. Người ta đến chửi mình, chê mình, nói mình đủ thứ hết, xúc phạm mình đủ thứ hết, cái đó gọi là pháp ác thì trước cái pháp ác ấy mình xem tâm mình nó có tham sân si, buồn vui, giận ghét cái điều đó không. Nếu nó có thì mình quán pháp để mình xả nó. Quán pháp thuộc về những pháp của Phật dạy: Tứ Diệu Đế: khổ - tập - diệt - đạo và các pháp hành trợ đạo.

Thí dụ Phật dạy mình quán về khổ và nguyên nhân của khổ. Người này chửi mình là duyên nợ nhân quả của mình. Trước đây mình tạo nghiệp không tốt với ai, mình làm cho người ta khổ, khiến bây giờ mình gặp cái hoàn cảnh xấu này đến, người ta chửi mình. Mình quán ra cái pháp khổ, cái nguyên nhân khổ như vậy. Khi hiểu ra như vậy thì Phật dạy mình nương vào cái pháp trợ đạo từ - bi - hỉ - xả. Mình quán rằng thôi tâm này hãy hoan hỉ, bằng lòng, chấp nhận người ta chê mình. Cái người chê mình họ cũng khổ lắm. Họ đang tạo cái pháp ác, mình phải biết thương xót cái người đang chửi mình. Mình nương vào cái pháp Tứ Vô Lượng Tâm để mình xả cái người chê mình. Khi hiểu ra nhân quả như vậy thì lòng mình hoan hỉ vui vẻ cái gì chê mình. Cái đó Phật gọi là quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu.

Nói về pháp thì nó nhiều lắm. Ví dụ trời rét, trời nóng cũng là pháp ác. Rét thì mình lạnh buốt khó chịu, nóng thì mình bức rức khó chịu. Nó sinh ra cảm thọ khổ, nó cũng thuộc về pháp ác. Trước những cảm thọ khổ này thì Phật dạy mình nương vào pháp quán vô thường, các hành vô thường, khổ, vô ngã. Bây giờ nó lạnh, nó nóng, mai mốt nó cũng thay đổi nó hết, đâu có gì thường mà mình chấp rồi mình nương vào cái pháp từ bi hỉ xả, mình quán về tâm hỉ - hỉ là lòng hoan hỉ kham nhẫn vô lượng quả khổ. Mình hoan hỉ, nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng, đón nhận mọi pháp ác đến mà lòng mình không có đau khổ. Cái đó Phật gọi là hỉ tâm vô lượng giải thoát quả khổ. Khi mình đặt niệm quán tâm hỉ như thế thì cái pháp ác, cái pháp đem đến sự khổ cho ta nó không còn chi phối vào tâm ta. Dù cho trời có lạnh mình cũng hoan hỉ, kham nhẫn, bằng lòng, không có buồn khổ. Hoặc trời có rét chăng nữa mình cũng kham nhẫn bằng lòng không buồn khổ. Cái đó Phật gọi là quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu.

Nói về cái pháp ác nó nhiều lắm. Nên mình cứ quan sát, mình biết rõ. Ví dụ như trong gia đình chúng ta nó nhiều pháp ác lắm. Tại vì người thân mình cũng là 1 người bình thường, họ đâu phải là thánh là Phật, lúc nào cũng đối xử với mình chuẩn mực đạo đức đâu. Họ cũng đang sống trong nhân quả vô minh nghiệp lực của họ. Đôi lúc họ cũng phiền não. buồn vui. giận ghét, cũng giận mình, cũng chê mình, cũng trách mình. Trước những cái pháp ác thì mình quán tâm từ, tâm bi, tâm hỉ, tâm xả. Từ là lòng thương yêu mọi người. Dù người ta có xấu như thế nào thì mình phải biết thương họ, thương xót cho cái điều không tốt của họ. Thứ ba mình hoan hỉ bằng lòng chấp nhận cái điều không may. Cái người quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu là họ sẵn sàng đối diện mọi quả khổ đến. Cái khổ nào đến thì họ cứ quán pháp thôi. Bất cứ cái khổ nào đến họ cứ nương vào chánh pháp của Phật Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và các pháp hành trợ đạo. Nương vào các pháp trợ đạo này để khắc phục những hoàn cảnh nhân quả không tốt đến với ta. Mình cứ tư duy, mình như lý tác ý, mình cứ quán như vậy thì cái tâm mình ngay đó là mọi phiền não từ từ cũng đoạn diệt. Cái đó Phật gọi là quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu là như vậy.

Cho nên khi mình quán pháp là như thế nha. Có 2 phần pháp chỉ chung cho tất cả các pháp: pháp ác và pháp thiện. Đa phần pháp ác thì nhiều, sinh ra phiền não thì nhiều. Mình nương vào chánh pháp của Phật để mình đoạn diệt phiền não trong thân tâm của chúng ta. Đó là tu tập Tứ Niệm Xứ, quán thân, thọ, tâm, pháp để khắc phục tham ưu. Tham ưu là những triền cái sinh ra khổ và lạc. Khi mình nương vào các pháp quán của Phật để mình đoạn trừ, để mình lìa xa mọi cái tham ưu, triền cái: tham sân si mạn nghi thì ngay đó tâm mình chứng đạt được vô lậu, Niết bàn, chứng được quả Bất hoàn: nghĩa là nó đoạn diệt được 5 hạ phần kiết sử: thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham và sân. Người tu tập Tứ Niệm Xứ, họ quán 4 chỗ thân, thọ, tâm, pháp như vậy thì 5 kiết sử trói buộc sinh ra phiền não tham ưu gồm có thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham và sân ngay đó là đoạn diệt sạch người này chứng được quả bất hoàn, gọi là quả bất lai. Người chứng được quả bất lai thì đức Phật nói rằng ngay hiện tại cuộc sống của họ họ đã hóa sanh vào Niết bàn. Họ sẽ chứng được hữu dư y niết bàn ngay tức thời liền. Người này không còn sinh tử luân hồi ngay giây phút hiện tại dù họ đang còn sống.

Cho nên người nào tu tập 4 niệm xứ này 1 cách chuyên chú, một cách miên mật cụ thể rõ ràng như vậy thì sẽ khiến cho các tham ưu, các kiết sử: thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham và sân từ từ đoạn diệt sạch hết thì người này chứng được quả Bất lai, chấm dứt mọi phiền não, đau khổ, không còn sinh tử luân hồi là như vậy.

Hôm nay thầy giúp cho con hiểu về tu tập 4 niệm xứ, quán thân thọ tâm pháp là như vậy nha!

Tứ Niệm Xứ là pháp cốt lõi của đạo Phật. Một thời gian ngắn như thế này, thầy không thể phân tích rộng rãi thêm, thầy chỉ phân tích cô đọng như vậy. Sau này mình tu tập thì mình dựa trên những điều thầy phân tích để mình quán ra cho nó rộng hơn. Mình càng quán rộng nhiều chừng nào thì cái phiền não, kiết sử: tham sân si mạn nghi của mình nó nhanh đoạn diệt lắm. Thí dụ như trong phần quán thân: quán thân bất tịnh, quán thân vô thường, nó nhàm chán hết thì cái thân kiến làm gì còn. Cái thân kiến là chấp cái thân này là đẹp, chấp thân này là tốt, đâu còn nữa, ngay đó là thân kiến đoạn diệt. Khi thân kiến đoạn diệt, cái phiền não đẹp xấu nó không còn khái niệm gì cả. Ai có chê mình xấu chăng nữa nó không phiền não vì nó biết rằng thân này là bất tịnh, vô thường, lấy gì mà phiền não đẹp xấu. Thân kiến đoạn diệt ngay liền là như vậy.

(Phật tử đánh máy lại bài giảng Quán Tu Tứ Niệm Xứ của thầy Thích Bảo Nguyên - Giảng ngày 15/10/2017 tại Núi Thị Vải - Huyện Tân Thành - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)