Saturday, 23 May 2020

PHÁP HÀNH THẤT GIÁC CHI 1 - Thầy Thích Bảo Nguyên



Hỏi: Bạch thầy. Chúng con có 1 điều chưa được sáng tỏ. Vào đầu tháng thứ 1 chúng ta gặp những cảm thọ khốc liệt chết điếng. Lúc đó dầu chúng con như bị ai đó dùng lưỡi dao khoánh mạnh rất đau đớn. Tim chúng con nhói lên từng hồi như có hàng chục mũi kim đâm liên tục. Xương đùi chúng con như bị gãy, cử động là đau. Chưa kể chúng con còn bị đau họng, xổ mũi, ho khan. Lúc đó tâm chúng con vẫn bất động trước nhưng cảm thọ này, không hề cảm thấy sợ hãi hay bất an. Trí tuệ chúng con biết đây là nhân quả của mình và cũng hiểu những cảm thọ này cũng là pháp vô thường sinh diệt, chúng con dùng ý thức và lòng từ bi hướng đến từng chỗ đau trên thân thể mình, hướng đến đâu thì cảm thọ tan đến đấy. Lúc này mũi chúng con vẫn nghẹt, khó thở do bị ho cảm cúm. Chúng con theo dõi hơi thở ra vào tự nhiên thì 1 lúc mũi được thông trở lại, cảm thọ đau họng sổ mũi cũng không còn. Bạch Thầy! Như vậy đấy có phải là lực của thất giác tri không ạ? Đây là cái điều chúng con băn khoăn từ lâu. Hôm nay chúng con đủ duyên thưa hỏi thầy. Mong thầy giải thích và hướng dẫn chúng con thêm.

Pháp THẤT GIÁC CHI khi tu tập và hành pháp này nó có 2 giai đoạn: giai đoạn 1 là HÀNH PHÁP, giai đoạn 2 là CHỨNG PHÁP. Khi mình tu tập giai đoạn hành pháp để vượt qua các cảm thọ, các tham ưu thì Phật dạy mình phải tu tập pháp 7 giác chi. Nếu trên thân mình có tham ưu, cảm thọ nào, nó làm mình mất cái giác chi ấy thì mình phải lấy cái pháp giác chi đó ra mình tu.

Thí dụ bây giờ trong thân mình có cảm thọ đau nhức phải không? Khi cảm thọ khổ tác động trên thân, nó làm cho mình mất đi trạng thái Khinh An Giác Chi. Bây giờ mình xả đi thọ khổ, cái cảm thọ đau trên thân này thì mình phải tu tập Khinh An Giác Chi và Hỉ Giác Chi. Có nghĩa là khi mình tu tập pháp 7 giác chi, khi tu nó phải câu hữu các giác chi còn lại để nó hướng tâm xả các cảm thọ, các chướng ngại trên thân của nó. Thí dụ bây giờ cái cảm thọ đau trên thân này, để nhiếp phục nó, để xả nó, mình phải TRẠCH PHÁP GIÁC CHI trước. Khi mình trạch pháp, chỉ cho là mình hiểu rõ ra cái sự thật của cái chướng ngại ấy. Ví dụ cảm thọ đau, mình hiểu rằng cái thọ đau này là vô thường, là nhân quả của mình trước đây mình đã tạo, hôm nay đủ duyên nó đến. Hoặc trên thân này nó có những cảm thọ nóng bức, lạnh, v.v… thì mình cũng trạch ra cái pháp biết rằng cảm thọ này là vô thường thôi. Bây giờ nó nóng bây giờ nó lạnh, khi hết duyên thì nó hết, cái sự nóng lạnh nó cũng là pháp vô thường, và cái cảm thọ bệnh tật nó cũng là pháp vô thường. khi đủ duyên thì nó hợp, hết duyên thì nó tan.

Lúc mình tư duy, mình trạch pháp ra, đó là mình đang Trạch Pháp Giác Chi. Khi mình Trạch Pháp Giác Chi xong, mình an trú trong XẢ GIÁC CHI để cho mình vượt qua cảm thọ này. Để giúp cho mình vượt qua cảm thọ này thì mình phải TINH TẤN GIÁC CHI. Tinh Tấn Giác Chi có nghĩa là mình phải SIÊNG NĂNG NHIẾP PHỤC, không sợ hãi, không lo lắng cảm thọ khổ trên thân thì nó mới giúp cho mình vượt qua cảm thọ này.

Cho nên khi mình hành pháp giác chi này để vượt qua cảm thọ, nó phải CÂU HỮU tất cả CÁC GIÁC CHI CÒN LẠI để nó trạch ra đúng cái tướng trạng của các tham ưu trên thân này. Và khi con tu tập như vậy là hầu hết mình dùng ý thức phải không? Gọi là Ý THỨC LỰC. Mình dùng ý thức của mình để mình tư duy, để mình hiểu ra mọi sự thật thì nó tạo thành LỰC GIÁC CHI về sau. Sau này khi kết quả của giác chi nó sung mãn, nó tạo ra cái lực của DỤC NHƯ Ý TÚC. Thầy có giảng về bài “Tứ như ý túc”. 

Dục như ý túc là cái muốn, chỉ cần mình hướng tâm đến cái sự thật, cái cảm thọ, cái chướng ngại ấy thì tự nhiên cái cảm thọ nó sẽ tan biến liền. Mình không có sợ hãi, mình không có lo lắng cảm thọ khổ này trên thân. Khi giác chi mình đã sung mãn rồi nó có năng lực của nó. Thì lúc này nó tạo thành dục như ý túc trong 4 thần túc. Khi nó có lực rồi lúc này con không còn tu tập trên cái giác chi gì nữa. Tại vì lúc này giác chi nó tạo thành cái QUẢ rồi, cái quả nó tạo thành dục như ý túc.

Trong kinh Thức ăn đức Phật nói: Thức ăn của Tứ thần túc là gì? Đó là 7 giác chi. Khi 7 giác chi nó sung mãn rồi thì tự nó tạo ra cái lực của Dục như ý túc. Thí dụ như bây giờ khi trên cái thân này, cái ác pháp hay cảm thọ gì đến thì lúc này mình phải dùng cái dục như ý túc để mình hướng tâm. Lúc này con không phải tác ý giống như ban đầu nữa, mà nó trở thành nội lực. Chỉ cần con hướng tâm tới cái cảm thọ gì thì cảm thọ kia nó sẽ nhiếp phục. Đó là cái lực của giác chi. Cái lực của giác chi lúc này nó trở thành cái quả. Khi mình tác ý như vậy để nó xả đi cảm thọ, thì nó trở về trạng thái tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự. Đó là cái quả của 7 giác chi khi nó thành tựu.

Còn khi con đang tu tập, đang hành pháp thì con đang thực hiện ĐỊNH GIÁC CHI là như thế nào, khi con đang tu tập Định giác chi ý?

Bạch thầy, con bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

Đúng rồi. Có nghĩa là khi mình đang hành pháp, đang tu thì tâm mình phải bất động trước ác pháp và cảm thọ, gọi là tâm định trên thân, tâm bất động. Muốn có Định giác chi này thì mình phải có Trạch Pháp Giác Chi và phải có Niệm Giác Chi. "Niệm" chỉ cho là mình Chánh niệm tỉnh giác, mình thấy rõ cái cảm thọ này nó là vô thường, không có thật, đừng có sợ nó. Do mình an trú trong Trạch Pháp Giác Chi, Niệm Giác Chi như vậy mà nó xả được cảm thọ này, thì tự nó có Định Giác Chi. Cho nên khi mình tu tập giác chi nào thì nó phải có câu hữu cái giác chi kia để nó thanh tịnh cái giác chi này.

Tâm mình nó lăng xăng khởi những cái niệm này niệm kia, khi tâm mình lăng xăng khởi niệm thì lúc này mình phải tu pháp là Niệm Giác Chi – Chánh Niệm Tỉnh Giác. Trên Niệm Giác Chi này, dù là niệm thiện hay niệm ác nó đến thì mình cũng phải biết. Nếu mình không biết, nó trở thành cái niệm vô minh rồi, nó trở thành niệm bất lạc bất khổ thọ. Ở đây khi cái niệm nó khởi ra, dù là niệm thiện hay niệm ác mà nó không nhận ra cái niệm ấy đó là niệm bất lạc bất khổ thọ, hoặc nó rớt vào trạng thái không ngơ hoặc là không tưởng, nó không nhận ra cái niệm ấy. Cho nên khi mà tâm con nó khởi ra cái niệm gì thì mình phải thực hiện Niệm Giác Chi. Đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác, mà muốn thực hiện Niệm Giác Chi, con phải Trạch Pháp Giác Chi ra, để con tư duy. Trạch Pháp Giác Chi là tư duy, tư duy để mình hiểu cái niệm này, mình thông suốt nó như thật, từ đó mình sẽ hướng đến xả giác chi.  

Khi mình đang tu tập 7 giác chi, cái pháp Xả Giác Chi là cái phần cuối cùng, chỉ cho là mình tác ý mình xả để tâm mình nó an trú vào cái tâm bất động. Cho nên khi mình thực hiện giai đoạn hành pháp giác chi này thì nó phải câu hữu với các pháp để mà nó tư duy, để nó trạch pháp nó sống trong cái niệm giác chi như vậy, nó thông suốt như vậy. Khi nó thông suốt rồi, mình hướng đến Xả Giác Chi, gọi là tác ý đó. Từ đó mà nó giúp cho mình nhiếp phục các tham ưu, các cảm thọ. Trong quá trình con tu tập như vậy, những năng lực giác chi này từ từ nó tạo thành cái nội lực, chứ không phải tự nhiên mà nó có nội lực 7 giác chi.

Khi mình hành 1 pháp nào thì nó phải tập hợp các pháp ấy. Trong bài kinh thức ăn đức Phật nói rất rõ. Đầu tiên đức Phật nói thức ăn của Tứ thần túc là gì? Đó là 7 giác chi. Và thức ăn của 7 giác chi là gì? Đó là tứ niệm xứ - chỉ cho 4 chỗ thân thọ tâm pháp. Thức ăn của Tứ niệm xứ là gì? Đó là 3 thiện hạnh – chỉ cho 3 hành động thân khẩu ý, 3 nơi này nó thanh tịnh rồi thì tự nó là Tứ Niệm Xứ. Như vậy thức ăn của 3 thiện hạnh là gì? Đó là hộ trì các căn – chỉ cho 6 căn của mình, hàng ngày mình phải phòng hộ, sống đúng thiện hạnh để nó ly dục ly ác pháp, từ đó mà 3 thiện hạnh này nó mới thanh tịnh. Như vậy thức ăn của hộ trì các căn này là gì? Đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác. Muốn hộ trì các căn này thì mình phải có Chánh Niệm Tỉnh Giác – mình giác ra các căn này như thật các pháp, để từ đó mình xả tâm, để tâm mình hướng đến ly dục ly ác pháp, để cho 3 thiện hạnh thân khẩu ý được thanh tịnh.

Như vậy khi mình đang hành pháp để đưa đến sung mãn 7 giác chi thì nó phải câu hữu với các pháp để nó tư duy, để nó trạch pháp, nó sống trong niệm giác chi như vậy, nó thông suốt như vậy. Khi nó thông suốt, mình hướng đến Xả Giác Chi – tác ý nhiếp phục các tham ưu này. Từ đó các giác chi này mới thành tựu được.

Hồi nãy con nói đó, khi có những chướng ngại, có cảm thọ khổ trên thân nó đến, con hướng tâm trạch pháp, tác ý xả thì đó là con đang hành pháp giác chi. Cái giai đoạn này là con đang nhiếp phục tham ưu, mình phải tư duy để mình quán mình xả nó. Sau này khi nó đã sung mãn rồi, nó trở thành cái lực của Tứ thần túc – gọi là Dục như ý túc. Con nên nhớ nha, cái quả của 7 giác chi là Tứ thần túc. Lúc này những chướng ngại nào nó đến, chỉ cần con hướng tâm đến là nó nhiếp phục liền.

Hỏi: Bạch thầy! Khi đang tu tập và sung mãn 7 giác chi thì như thầy dạy có những cái niệm: niệm ác và những vọng tưởng nó khởi lên nhưng mà trong sự tu tập này thì tất nhiên cái tâm tham, tức là cái tâm mà mình bị ảnh hưởng bởi cái niệm ấy nó không còn đúng không thầy? Ví dụ mình nó động lên, nó nghĩ đến 1 điều đã qua trong quá khứ, cái niệm ấy nó là 1 cái niệm ác, 1 cái hoàn cảnh khổ của mình trước đây, nhưng lúc đó cái lực của 7 giác chi nó đang sung mãn, thì mặc dù nó khởi niệm nhưng cái dục - sự chi phối nó hoàn toàn nó bất động. Bạch thầy có phải như thế không ạ?

Cái niệm quá khứ, cái niệm phiền não mặc dù nó không còn tác động chi phối, nhưng mà mình cũng phải ở trên niệm cái Niệm giác chi – chỉ cho là Chánh niệm tỉnh giác. Mình cũng phải hiểu nó, mà trước khi hiểu nó thì mình cũng phải trạch pháp để mình hiểu nó như thật, ví dụ cái niệm này nó cũng là vô thường, nó là pháp duyên hợp duyên tan thôi. Khi mình đã hiểu biết rồi, mình hướng đến xả giác chi. Khi mình tác ý, mình làm chủ nó, mình bất động với nó rồi. Nhiều khi có những cái niệm nó vừa đến, mình biết nó, nó đi liền. Đó là do mình có Chánh Niệm Tỉnh Giác tốt thì nó pháp huy cái giác chi này rất là tốt. Chứ không phải là cái niệm mình nó khởi ra nó còn lậu hoặc nha.

Hỏi: Bạch thầy! Cái này bên Đại thừa dù còn bất kỳ 1 cái niệm thiện niệm ác nào đều là lậu hoặc, họ không chấp nhận bất kỳ 1 cái niệm nào như vậy.

Cho nên vì người ta hiểu sai các pháp hành của Phật. Do đường lối tu tập bất lập văn tự, giáo hoại biệt truyền, chế ra những pháp tu đưa đến diệt ý thức. Còn ở đây Phật dạy mình, những cái niệm gì nó khởi ra, khi nó khởi, nó chưa có phải là lậu hoặc. Lậu hoặc nó có là do đâu? Do mình chấp trước những cái niệm đó. Khi nó khởi ra cái niệm tham, mình chấp trước, mình hành theo cái niệm tham thì nó mới thành lậu hoặc. Còn cái niệm tham nó khởi ra mà mình có trí, có Chánh kiến, mình hiểu biết như thật, mình không hành động theo cái điều tham, mình hướng tâm mình trạch pháp mình xả, không có hành động theo nghiệp tham thì cái niệm này nó không phải là lậu hoặc.

Ở đây mình phải xác định và định nghĩa cái từ “lậu hoặc”. Lậu hoặc là chỉ cho tâm dính mắc, tâm chấp thủ. Do có chấp thủ mà mình tham đắm, mình hành động theo cái tâm tham, sân, si, mạn, nghi của mình. Đó là lậu hoặc. Cho nên ngài Xá-lợi-phất nói, khi 6 căn tiếp xúc với 6 pháp trần, nó chưa phải là kiết sử, nó chưa phải là lậu hoặc. Nếu 6 căn tiếp xúc với 6 pháp trần mà nó bị cái dục chi phối, nó hành động theo cái dục của nó, tham sân si mạn nghi của nó thì mới gọi là có kiết sử, mới gọi là lậu hoặc. Còn 6 căn này nó tiếp xúc với 6 pháp trần, nó hiểu biết nhưng nó không có chấp thủ, nó không có dính mắc, nó không có phóng dật thì tâm ấy không phải là lậu hoặc. Cũng vậy những niệm gì sinh khởi trong tâm mình, khi nó sinh khởi ra mình biết nó như thật, mình không chấp trước, không có hành động theo cái niệm tham sân si mạn nghi này thì nó không phải là lậu hoặc. Chứ không phải là chúng ta khởi niệm ra gọi là lậu hoặc.

Cho nên cách tu tập của Tổ, những cái niệm gì nó khởi ra thì người ấy vẫn còn lậu hoặc, cái gì còn tư duy trên pháp thiện và pháp ác, và người ta xem những hiểu biết những cái niệm này nó là chướng ngại, nó sở đắc, đó là cách tu của các tổ, không niệm thiện không niệm ác. Còn ở đây Phật dạy chúng ta hoàn toàn ngược lại, những cái gì nó khởi ra mà mình có Chánh kiến, Chánh tư duy thì cái niệm này nó trở thành TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Hỏi: Bạch thầy! Như những cái điều mà con hiểu qua những lời Phật dạy, những lời thầy vừa dạy thì có phải người mà đang đến giai đoạn tu tập thất giác chi thì bất kỳ 1 cái vọng tưởng nào, nhớ về những cái điều đã qua, mặc dù đó là những điều xấu những niệm ác, những niệm thiện, mình tự nhiên trong đầu nhớ đến cái điều tốt, điều thiện mình đã làm cho mọi người trong 1 cái hoàn cảnh nào đấy rõ ràng thì bạch thầy trong cái giai đoạn tu tâp đấy thì chắc chắn cái dục tham, cái sự dính mắc, chấp trước là không có đúng không thầy? Nếu con đang tu tập thất giác chi thì không thể có 1 cái niệm mà mình hoan hỉ, mình vui thích cái niệm vừa khởi lên mà nó hoàn toàn bất động trước cái niệm đấy đúng không thầy? Mà nó chỉ dùng pháp hướng, pháp Niệm giác chi câu hữu với Dục định như ý túc tinh cần hành để nó xả những cái niệm đấy, đừng khởi lên quá nhiều, làm mình mất cái trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc vô sự. Bạch thầy, chúng con hiểu như vậy có đúng với lời thầy dyaj không ạ?

Trong niệm Giác chi, Phật dạy Niệm” là nghĩ nhớ những điều đã qua, đã biết từ lâu đã học từ lâu. Thí dụ trước đây mình đọc cái đoạn kinh nào đó thì mình hiểu biết về phần kinh Phật dạy, Niệm giác chi này là niệm thiện, chứ không phải là những cái niệm tham sân si đâu. Niệm giác chi là chánh niệm đó. Niệm này Phật gọi là niệm tư duy: chánh kiến và chánh tư duy. Khi mình nghĩ nhớ những điều gì mình đã hoặc, đã qua, biết đã qua như những điều Phật dạy, nhưng bài kinh, đoạn kinh nào mình đã học qua, bây giờ mình nghĩ nhớ mình biết cái đoạn kinh đó thì những niệm này gọi là niệm thiện, gọi là niệm thiên – niệm tri kiến hiểu biết của mình thì mình cần có tri kiến này, mà trong kinh đức Phật gọi đó là Đa văn. Vị ấy đa văn, nghe nhiều, tích tập và để phòng hộ các căn. Thì trong 7 Vi Diệu Pháp đức Phật có nói những người đa văn, chỉ cho những người học pháp, hiểu biết về các pháp này. Do mình có hiểu biết như vậy, những chướng ngại nào đến thì mình phải an trú vào Niệm giác chi để mình hiểu biết nó như thật, Khi mình hiểu biết như thật, Phật dạy mình hướng tâm tác ý xả, rồi kế đến xả giác chi. Đức Phật nói niệm là nghĩ nhớ những điều đã qua là như vậy.

Hoặc là tùy niệm, tùy niệm là gì? Có nghĩa là ví dụ như cái tâm mình nó còn thèm ăn, nó nghĩ nhớ đến ăn uống. Cái dục nó làm thèm ăn. Khi mà nó vừa khởi lên cái niệm dục ăn, thèm ăn, Phật dạy mình phải TÙY NIỆM: bằng cách mình quán thức ăn bất tịnh, thức ăn này là ô uế, bây giờ nó ngon, khi ăn qua khỏi cổ rồi nó cũng trở thành bất tịnh. Do mình tùy niệm mình quán như vậy mà nó nhàm chán, nó không còn muốn tham ăn, đó là tùy niệm. Hoặc là cái tâm cái thân này nó còn ưa về sắc dục, ái dục thì Phật dạy mình phải tùy niệm mình quán: thân này là bất tịnh thân này là ô uế, trong thân này có vô số thứ bất tịnh: máu, mủ, phân, nước tiểu, đờm, rãi. Đó là nội thân, còn ngoại thân nó chỉ cho là mồi hôi, lông, tóc,… những thứ này nó thuộc về bất tịnh.

Cho nên khi cái tâm mình có những cái niệm về sắc dục, ái dục trên thân tâm này thì Phật dạy mình phải tùy niệm để mình quán mình xả cái dục tham này. Cái tham ưu này. Đó là TÙY NIỆM. Khi mình tu tập vậy là mình đang thực hiện Định Giác Chi. Và khi mình hiểu rồi thì lúc này mình hướng đến Xả Giác Chi mình hướng đến mình xả để mình giữ tâm bất động trước cái cảm thọ sắc dục này của thân.

Như vậy cái Niệm giác chi nó có 2 phần: Niệm là nghĩ nhớ những điều mình đã huân tập, mình đã học pháp, những lời Phật dạy; thứ 2 là Tùy Niệm để mình tư duy hiểu biết các pháp như thật, để mình quán mình xả các cảm thọ, các dục trên thân. Đó là Tùy niệm.

Hỏi: Bạch thầy! Khi mà 1 người đang trong quá trình tu tập thất giác chi và khi tùy niệm và trạch pháp ra những cái niệm thiện ác thì dần dần những cái niệm ấy nó cũng không khởi lên nữa, mặc dù trước đấy họ không có muốn nghĩ đến những điều ấy nhưng nó là những cái điều đã được huân tập, đã được cố định trong tâm trí họ từ lâu và những cái này là những cái biến động rất lớn, thì trong quá trình tu tập 7 giác chi tự nhiên nó khởi lên mặc dù người hành giả không muốn. Nó là 1 cái điều tự nhiên nó khởi lên. Bởi vì có 1 cái lực của 7 giác chi nên tâm nó bất động nó hiểu ra những cái niệm này cũng là pháp vô thường, nó cũng là pháp sinh diệt, nhân quả nên xả những cái niệm đấy. Và lâu dần đến khi sung mãn 7 giác chi thì lần sau bất kỳ 1 niệm thiện ác này đến thì chỉ cần nó dùng cái ý thức nó hướng tâm đến là tự cái niệm đấy nó tan luôn. Bạch thầy, nếu tu tập như vậy thì dần dần về sau nó cũng đi về con đường là nó bật những cái vọng tưởng về quá khứ và tương lai thì bạch thầy chặng đường phía trước như vậy thì ở chỗ này, nó gặp nhau giữa Thiền Nguyên thủy và Thiền Đại thừa ở chỗ là nó bật những vọng tưởng suy nghĩ về quá khứ hay tương lai nhưng nó khác ở chỗ là do có tri kiến có hiểu biết vê các pháp nhân quả sinh diệt vô thường nên những cái niệm này nó dần dần lắng xuống. Còn ở bên thiền đại thừa thì các vị thiền sư dạy đệ tử mới vào là dùng pháp môn nhìn vào tâm mình thấy cái niệm nào niệm ác hay niệm thiện thì ngay đấy mình biết những cái niệm ấy là không thật là hư dối thì ngay đấy mình xả luôn, tức là ngay khi mình vừa nghĩ nhớ đến đều gì thì mình coi những điều đấy là những điều chướng ngại cho công phu tu tập thì mình phải tức khắc mình đoạn tận tất cả những suy nghĩ khởi lên trong đầu. Thì cũng là 2 con đường: 1 con đường của tri kiến xả tâm - con đường của Nguyên Thủy và 1 con đường các Tổ gọi là Tối thượng thừa, tức là ngay từ đầu đã chặt bỏ, bỏ qua những phương tiện để nhảy thẳng vào đất Như Lai thì mắt thấy sắc, khi mùi ngửi hương, khi lưỡi nếm vị, tâm không khởi 1 niệm tâm không có 1 cái suy nghĩ phân biệt nào thì ngay đó là Như Lai, ngay đó là Chư Phật, ngay đó là Đắc đạo. Tức là chỗ đấy là chỗ dừng không cần phải tu tập thêm cái gì nữa. Bởi vì khi 1 hành giả đến giai đoạn từ ngày này quá ngày khác, từ tháng này quá tháng khác, từ năm nay qua năm khác mà cái vọng tưởng về quá khứ về tương lai nó bật nó không tự động nó khởi, theo quan điểm của Phật giáo đại thừa thì đến chỗ này là chỗ người tu đã về nhà rồi, đã đặt mọi người gánh nặng xuống, như kiểu đã ngồi trên lưng trâu mà hát bài ca thôn giã của chú mục đồng. Thì rõ ràng là 2 cái sự bạt vọng tưởng của quan niệm Thiền Nguyên thủy và Thiền Đại thừa, cái pháp tu lúc đầu nó khác nhau, nhưng về sau nó dừng lại ở 1 chỗ, nó gặp nhau ở 1 điểm, nhưng con thấy rõ ràng là cái sự bạt vọng tưởng, cái sự yên lắng thanh tịnh của nội tâm do 1 hành giả thực hành theo pháp Nguyên Thủy nó lìa tham sân si mạn nghi. Còn cái trạng thái cũng bạt vọng tưởng cũng không suy nghĩ hay lăng xăng về quá khứ hay tương lai của 1 vị tu theo thiền đại thừa nó còn rơi rớt lại những cái tham sân si. Khi mà đụng đến cái hoàn cảnh khốc liệt, nghịch cảnh, ngang trái thì lúc đấy những cái tham sân si mạn nghi vi tế nó mới khởi ra thì lúc đấy vị đấy mới biết rằng “ồ, mình chưa vô lậu, mình vẫn còn cái ngã”. Bạch thầy, rõ ràng cái trạng thái giống hệt nhau nhưng khác nhau ở 1 điểm là tu tập theo thiền Nguyên thủy, theo đúng đường lối từ thấp đến cao, có thứ lớp thì nó đoạn tận dần dần tham sân si mạn nghi rất rõ ràng. Còn bên tu tập theo đường lối các Tổ sư thì hoàn toàn những cái phiền não, những cái tham sân si mạn nghi này nó không thể đoạn diệt được. Vì thế nên các kinh điển đại thừa mới xuất hiện để mở ra 1 còn đường tu, 1 hướng thoát cho những người tu vẫn chưa giải thoát để cho họ có 1 niềm hy vọng về tương lai, về con đường Bồ Tát Đạo, về con rất lâu dài, về con đường phía trước rất hy vọng, để cứu độ chúng sinh, để sau khi thành phật rồi thì những tham sân si nó mới đoạn diệt. Còn con thấy thầy dạy chúng nó là khi nhập sơ thiền thì những tham sân si nó đã đoạn tận thì ngay đấy là Niết Bàn. Khi mình xả những quả chứng của tầm tư hỉ lạc nhất tâm thì ngay đó là niết bàn rồi thì chỗ này các vị tổ sư các vị thiền sư bên hệ phái phát triển rõ ràng là cách xa so với những gì chúng con được học, những gì Phật dạy trong hệ phái Nguyên thủy. Bạch thầy, chúng con suy nghĩ như thế mong thầy chứng minh.

Những gì con hiểu biết, có được Chánh trí để mình biết mình đang tu tập ở giai đoạn nào, và đồng thời mình biết cái kết quả pháp hành Phật dạy, khi tu đến đâu thì giải thoát nó hiện tiền đến đó, mình phải biết cái nơi mình đến. Vì chân lý diệt đế nó là sự thật, khi mình diệt được cái khổ thì ngay đó diệt đế nó hiện tiền liền, đâu có chờ thời gian đến để mà thấy, nó có Niết bàn liền. Cho nên chứng Sơ thiền là như vậy. Chứng sơ thiền là mình diệt cái tâm tham sân si mạn nghi. Khi mình đoạn diệt cái đó thì mình chứng thôi, và mình diệt dần dần, diệt đến đâu thì cái trạng thái Sơ thiền nó sẽ được sung mãn dần dần, khi nó đoạn diệt sạch hết tất cả 5 triền cái: tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi thì ngay đó là nó chứng được Sơ thiền. Đó là như vậy.

Thầy sẽ phân biệt so sánh cái này, hồi nãy mà con nói đó theo như bên đại thừa phát triển, tổ sư thiền xem cái niệm vẫn còn là chướng ngại. Cái niệm gì nó khởi ra thì các ngài xem nó là đối tượng cần phải diệt. Muốn diệt nó thì các ngài xem cái niệm này như là hoa đốm giữ hư không, như là giấc mộng, như huyễn như hoặc, không có thật. Cái ngài đưa ra cái câu tác ý này nhằm để diệt niệm vọng tưởng này, để cho không khởi niệm. Đó là cách các vị tổ như vậy. Nhưng ở bên thiền xả tâm đức Phật thì khác, bên Phật thì những niệm nó khởi ra nó là đối tượng của tri kiến.

Bạch Thầy! Trạch rõ niệm này là niệm ác, hay niệm bất thiện.

Đúng rồi! Nó rõ ràng rồi nó bắt đầu nó xả dần dần.

Ở bên thiền của Phật, Thiền Nguyên Thủy, mình còn gọi là Thiền xả tâm. Như vậy cái niệm nó khởi ra, nó là đối tượng của trí tuệ để nó phát huy sự hiểu biết về Chánh kiến, Chánh tư duy. Thí dụ bây giờ trong tâm mình vừa khởi lên niệm tham, hoặc niệm sân, si, mạn, nghi thì mình phải giác nó như thật, hoặc Chánh Niệm Tỉnh Giác. Thì trong Niệm giác chi đức Phật gọi là tùy niệm, tùy niệm thiện. Thí dụ bây giờ nó khởi lên cái niệm tham, mình biết rằng, nếu mình sống theo cái niệm tham này thì nó làm cho mình hại mình, hại người và hại chúng sinh. Khi biết như vậy, mình hướng tâm tới tác ý mình xả không hành động theo nó, để tâm mình hướng đến đoạn diệt các lậu hoặc đó.

Như vậy những chướng ngại, những ác pháp, những niệm mà nó đang sinh khởi trong tâm của mình là đối tượng nhằm để cho Niệm giác chi, Chánh tri kiến của mình nó sẽ được triển khai, nó sẽ được hiểu biết như thật. Vì vậy mà trong bài kinh Nhân quả ngài tỳ kheo Ni-ta-ba-ni-na nói, vô minh lấy cái gì làm tương đương. Ngài trả lời Vô minh lấy Minh làm tương đương. Minh ở đây chỉ cho tri kiến, trí tuệ của mình. Để cái Minh này được sáng tỏ thì nó phải soi thấu sự thật Vô Minh. Vô Minh chỉ cho thế giới của đau khổ, thế giới của tham sân si mạn nghi. Nó phải thấy ra sự thật các thế giới Vô Minh này mà nó đưa đến đoạn trừ Vô Minh. Cho nên ngài tỳ kheo Ni-ta-ba-ni-na nói Vô Minh lấy Minh làm tương đương là như vậy đó.

Cho nên đức Phật nói những niệm gì nó khởi ra mình phải biết nó như thật: đây là Khổ, đây là Nguyên nhân của Khổ, đây là Diệt khổ, đây là con đường đưa đến diệt khổ thì những cái niệm như vậy nó là Minh. Khi những cái niệm nó khởi ra mà nó có Minh thì nó trở thành Tri kiến Giải thoát. Như vậy là niệm của mình nó là đối tượng của tri kiến giải thoát. Nếu mà mình dùng 1 cái pháp nào đó để mình gom tâm, mình tác ý nhằm để nhằm diệt cái niệm vọng tưởng để cho không có khởi niệm, mình diệt niệm vọng tưởng này đồng thời mình diệt ý thức. Khi mình diệt ý thức đồng thời mình diệt luôn trí tuệ. Cái niệm mình có hoạt động nó đang sinh khởi mà trên cái niệm này nó có trí, nó có Chánh kiến, Chánh tư duy thì những cái niệm này nó trở thành TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Nhờ có Tri kiến Giải thoát, nó hiểu ra sự thật khổ và nguyên nhân khổ của cái niệm này, nó mới hướng tâm đến tác ý đoạn diệt cái gốc lậu hoặc. Cho nên chúng ta tu tập đoạn trừ các lậu hoặc là ngay chỗ cái pháp hành này.

Còn trước đây bên tổ thì khác. Bên tổ thì không cho khởi niệm. Những niệm gì nó đến là dùng pháp môn đè nó xuống, nó giống như mình lấy đá đè cỏ. Cái phương pháp của Tổ là như vậy đó. Những niệm gì khởi ra xem là huyễn giả, hoa đốm giữa hư không, như mộng như huyễn. Cách tu như vậy cũng giống như là lấy đá đè cỏ. thì tu 1 thời gian cái niệm này nó cũng vắng bạt nhưng lậu hoặc còn nguyên. Nó đâu đưa đến đoạn trừ các lậu hoặc đâu. Còn ở đây bên thiền của Phật, thiền xả tâm, vọng tưởng là đối tượng để triển khai tri kiến đưa đến đoạn trừ các lậu hoặc. Tựa như cái dục, như cái niệm này, mình đoạn dục gọi là mình ly dục ly ác pháp bằng phương pháp xả tâm như vậy thì các lậu hoặc tham sân si mạn nghi của mình mới đoạn diệt. Khi nó đoạn diệt rồi, tự tâm mình nó Định.

Bên Tổ, muốn cho tâm mình vắng bạt bằng cách diệt niệm, gọi là diệt trừ vọng tưởng để cho tâm mình nó Định, để cho tâm mình vắng lặng. Đó là phương pháp của Tổ sư thiền. Còn Thiền Xả Tâm Phật dạy mình, khi niệm gì khởi ra, mình phải định trên chánh tri kiến, mình hiểu biết như thật, rồi mình tư duy. Khi mình tư duy xong mình hướng tâm tác ý mình xả. Do mình thông suốt sự thật những lậu hoặc này, mình tác ý mình không hành động theo nó, thì những cái niệm này từ từ nó diệt. Nó diệt lâu hay mau mặc nó. Còn bên Tổ khi khởi niệm ra, tìm mọi cách để mà đè nó, không cho nó khởi niệm. Còn đằng này Phật dạy mình không đè nó, mình hiểu nó như thật, mình hiểu sự thật khổ, nguyên nhân của khổ, mình nhàm chán cái niệm này mình không hành theo nó thì cái niệm này từ từ nó diệt. Khi nó diệt thì tự nó định trên thân thôi. Khi tâm mình thanh tịnh thì tự nó định. Mình đừng có nôn nóng tác ý để cho thân mình nó định. Ở bên Tổ cứ làm sao gom tâm để cho tâm nó định, tâm nó định càng nhanh càng tốt. Còn bên Phật ngài không dạy điều đó. Quan trọng là tâm mình nó chánh niệm tỉnh giác. Trên Chánh Niệm Tỉnh Giác, nó có Chánh trí tuệ thì những chướng ngại, ác pháp, lậu hoặc nào tác động trên thân tâm này thì mình có Chánh tri kiến mình hiểu nó như thật rồi mình hướng tâm tác ý mình xả nó. Khi những cái niệm này tự nó diệt thì tâm mình tự nó định trên thân.

Bạch Thầy! Bên Tổ, là định chỗ khác. Bên Tổ là không trụ vào đâu cả, khác nhau hoàn nhau đấy ạ!

Bên Tổ thiền định vắng lặng, gọi là tâm tĩnh lặng. Các thiền sư sau này tu làm sao để mà dẫn tâm hướng tâm tới tĩnh lặng. Cho nên hiểu như vậy nó không đúng những điều Phật dạy. Khi tâm mình nó thanh tịnh thì ngài nói rằng nó phải định trên thân, gọi là Chánh niệm tỉnh giác định trên thân, hoặc đức Phật ngài dùng cái từ là Định Hiện tại lạc trú. Khi nó định, nó phải ở trên thân của nó. Còn nếu nó vắng lặng, nó không ở trên thân của nó, thì lúc này nó rớt vào không tưởng rồi. Ngài Xá-lợi-phất nói, khi ý thức thanh tịnh – chỉ cho tâm vắng lặng mà không có liên hệ đến 5 căn, thì nó sẽ sống trong không tưởng.  Như vậy rằng khi tâm mình đã ly dục ly ác pháp, nó đã thanh tịnh rồi thì sự thanh tịnh này phải ở trên thân của nó. Nếu nó ngồi nó biết hơi thở ra vô, đó là nó đang định trên thân hành nội, chỉ cho hơi thở. Nếu nó đi, đứng nằm ngồi mà nó tỉnh giác tỉnh thức trên thân, đó là nó đang định trên thân hành ngoại. Cuộc sống hàng ngày của Phật và các bậc Alahan thì các ngài an trú Chánh Niệm Tỉnh Giác định trên thân hành như vậy. Chính vì lý do đó mà đức Phật mới nói Định niệm hơi thở là Thánh trú, là Phạm trú, là Như lai trú là như vậy đó. Hàng ngày các ngài sống trên các trạng thái tâm tỉnh thức, thân hành niệm này, định niệm hơi thở này, đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác định. Thiền của Phật là như thế.

Còn bên Tổ thì tu làm sao nó trở về chỗ vô niệm, hướng đến chỗ tâm vắng lặng, không còn trụ vào 1 cái gì trên thân của nó nữa, dù là trên tâm hoặc là trên thân, hoàn toàn là vắng lặng. Khi tâm mình ở trong vắng lặng, đồng nghĩ rằng cái tâm ấy nó đang sống trong tưởng. Ngài Xá-lợi-phất nói: “khi ý thức thanh tịnh tĩnh lặng, nó không liên hệ đến 5 căn, nó sống trong trạng thái không tưởng”. Cho nên con thấy giữa Thiền Xả Tâm của Phật và Thiền của các thiền sư sau này nó không có tương ưng.

Bạch Thầy! Khi các vị thiền sư, các vị tổ sư triệt ngộ và đắc đạo các vị thường giảng bộ kinh lớn của đại thừa và thường không bao giờ các vị ấy giảng trạch kỹ lưỡng về Pháp môn Tứ niệm xứ và pháp hành 37 phẩm trợ đạo. Bởi vì các vị thiền sư coi đấy là cái phương tiện của những người sơ cơ bước đầu. Khi đã triệt tánh ngộ đạo, các ngài thường giảng những bộ kinh lớn của đại thừa, không có vị thiền sư nào giảng rõ ràng được trạng thái tâm định trên thân và tâm định trên hơi thở kỹ lưỡng như những vị thanh văn, những vị tu hành theo đường lối Nguyên Thủy, các vị thánh tăng, Alahan. Con thấy đây là sự khác biệt nhau rất rõ ràng mà người nào có tìm hiểu, có thực hành thì sẽ nhận thấy, không có gì nghi ngờ gì nữa. 

(Phật tử đánh máy lại bài giảng Pháp Hành Thất Giác Chi 1 - Thầy Thích Bảo Nguyên giảng ngày 05/07/2014 - Link bài giảng gốc: https://soundcloud.com/thichbaonguyen/phap-hanh-bay-giac-chi