Tuesday, 26 May 2020

NIỆM CHẾT


1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasattha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn".

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.

3. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

4. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

5. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

6. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

7. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

8. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Cho đến khi nào, sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

9. Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo ấy:
- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng ta sống ngày và đêm, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải tu học như sau:

10. "Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

(X) (20) Niệm Chết (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo:

2. - Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Tu tập niệm chết như thế nào, làm cho sung mãn niệm chết như thế nào thời đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, suy tư như sau:

"Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: "Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ trở ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay mật có thể khuấy động ta, đàm có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể khuấy động ta. Và như vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: "Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta". 

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: "Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta", thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. 

Ví như, này các Tỷ-kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. 

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi suy xét, biết được như sau: "Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.


Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đêm vừa tàn và ngày vừa an trú, suy tư như sau: "Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: "Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay mật có thể khuấy động ta, hay đàm có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể khuấy động ta. Và như vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: "Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung trong ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: "Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta", thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Ví như, này các Tỷ-kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi suy xét, biết được như sau: "Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.

Này các Tỷ-kheo, niệm chết, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời được quả lớn, được lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử.

Nguồn: Budsas.org

Sunday, 24 May 2020

THẤT GIÁC CHI

Thất giác chi
(Satta Bojjhanga)

Hòa thượng Piyadassi

Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1974

Kinh điển Phật Giáo, gồm ba tạng, luôn luôn nhắc đến những yếu tố của sự giác ngộ mà Ðức Thế Tôn đã nhiều lần giảng giải, trong nhiều trường hợp khác nhà Trong bộ Tăng Nhứt A-Hàm (Samyutta Nikaya, Maha Vagga) có một phần đề tựa là Bojjhanga Samyutta ghi lại những bài thuyết giảng của Ðức Phật về những Giác Chi (Bojjhanga). Phần này có ba bài Kinh mà từ thời Ðức Phật người Phật tử thường được tụng như một loại kinh để bảo vệ (paritta hay pirit) chống lại sự đau khổ, bịnh hoạn, hay một bất hạnh nào của đời sống.
Danh từ Bojjhanga bao gồm hai phần: bodhi và anga. Bodhi bao hàm ý chứng ngộ, hay nói một cách chính xác, là sự hiểu biết sâu sắc liên quan đến sự chứng ngộ Tứ Diệu Ðế, bốn Chơn Lý Cao Quý, tức là Chơn Lý Cao Quý về sự khổ, Chơn Lý Cao Quý về nguồn gốc của sự khổ, Chơn Lý Cao Quý về sự chấm dứt khổ, và Chơn Lý Cao Quý về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ. Anga có nghĩa là yếu tố, hay tay chơn (chi). Do đó, Bodhi + anga (bojjhanga) là những yếu tố của sự giác ngộ, hay những yếu tố của tuệ minh sát, hay của trí tuệ. Danh từ nầy thường được dịch là Thất Giác Chi.
"Bojjhanga! Bojjhanga! Bạch hóa Ðức Thế Tôn, xin Ngài từ bi chỉ dạy, lời dạy nầy có thể được áp dụng đến mức nàỏ" Một thầy tỳ-khưu bạch hỏi Ðức Phật như vậỵ
"Bhodaya samvattantiti kho bhikkhu tasma bhojjhanga ti vuccanti".
"Nó dẫn đến giác ngộ, nầy tỳ-khưu, vì lẽ ấy nó được gọi như thế".
Ðó là lời giải đáp vắn tắt của Ðức Bổn Sư ( trong Samyutta Nikaya). Ở một đoạn khác Ðức Phật dạy:
"Nầy chư Tỳ-khưu, cùng trong một cái nhà nóc nhọn, tất cả những cây kèo đều đâm vào góc nhọn, đều nghiêng về góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, và trong tất cả sườn nhà, cái góc nhọn được xem là điểm chánh. Cùng thế ấy, nầy chư Tỳ-khưu, thầy tỳ-khưu trau dồi và chuyên cần phát triển bảy yếu tố của trí tuệ cũng thiên về Niết-Bàn, nghiêng về Niết-Bàn, hướng về Niết-Bàn như vậy".
Bảy yếu tố ấy là:
1. Niệm (Sati),
2. Trạch Pháp (Dhammavicaya),
3. Tấn (Viriya)
4. Phỉ (Piti)
5. An (Passadhi)
6. Ðịnh (Samadhi)
7. Xả (Upekkha)
Ở đây xin ghi lại một trong những bài Kinh về Thất Giác Chi (Bojjhanga). Bài nầy bắt đầu như sau:
"...Ta có nghe như vầy: Một thủa nọ, Ðức Thế Tôn ngự trong thành Vương Xá (Rajagaha), tại Trúc Lâm (Veluvanna), chỗ nuôi sóc. Lúc ấy Ðức Ðại Maha Kassapa lâm bịnh, Ngài lâm trọng bịnh.
Vào lúc hoàng hôn Ðức Phật rời khỏi trạng thái vắng lặng của Ngài, đến thăm Ðại Ðức Maha Kassapa (Ma-ha Ca-diếp), ngồi lại, và ngõ những lời trí tuệ sau đây:
"Nầy Kassapa, hôm nay con đau thế nào? Con có nghe đau đớn quá lắm hay không? Con chịu nổi không? Sự đau đớn có thuyên giảm không, hay vẫn đang tăng thêm? Có dấu hiệu nào cho thấy bớt không, hay vẫn thêm?
-- Bạch Hóa Ðức Thế Tôn, con rất đau đớn. Con không thể nào chịu nổi. Thật là đau đớn vô cùng. Không có dấu hiệu nào thuyên giảm mà càng lúc càng đau thêm.
-- Nầy Kassapa, bảy yếu tố của sự giác ngộ ấy mà Như Lai đã giảng giải tường tận, Như Lai đã trau dồi và phát triển đầy đủ, và khi đã được trau dồi và phát triển đầy đủ, bảy giác chi này đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ toàn hảo, đến Niết-Bàn. Bảy yếu tố ấy là gì?
1. Niệm. Nầy Kassapa, pháp nầy Như Lai đã giảng giải tận tường, đã trau dồi và đã phát triển đầy đủ, và khi mà được trau dồi và phát triển đầy đủ, tâm niệm đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ toàn hảo, đến Niết-Bàn.
2. Trạch Pháp ...
3. Tinh Tấn ...
4. Phỉ ...
5. An ...
6. Ðịnh ...
7. Xả. Nầy Kassapa, pháp nầy Như Lai đã giảng giải tận tường, đã trau dồi và đã phát triển đầy đủ, và khi mà được trau dồi và phát triển đầy đủ, tâm niệm đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ toàn hảo, đến Niết-Bàn.
Bảy giác chi nầy, quả thật vậy, nầy Kassapa, Như Lai đã giảng giải tận tường. Như Lai đã trau dồi và phát triển đầy đủ, và khi mà được trau dồi và phát triển đầy đủ thất giác chi nầy đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ toàn hảo, đến Niết-Bàn.
-- Bạch Hóa Ðức Thế Tôn, quả thật vậy, bảy yếu tố ấy là Thất Giác Chi! Bạch Hóa Ðức Thế Tôn, quả thật vậy, đó là Bảy Yếu Tố Giác Ngộ!"
Ðó là những lời của Ðức Phật và tiếp theo là lời của Ðại Ðức Maha Kassapa đón mừng tiếp nhận những lời vàng ngọc của Ðức Thế Tôn. Liền sau đó Ðại Ðức Maha Kassapa hết bịnh. Lúc bấy giờ bịnh tình của Ðại Ðức Maha Kassapa liền tan biến". (Samyutta Nikaya V, trang 79)
Bài Maha Cunda Bojjhanga Sutta, một trong ba bài kinh đã được nhắc đến ở phần trên, ghi rằng một lần nọ chính Ðức Phật lâm bịnh và Ðại Ðức Maha Cunda đọc Kinh Bojjhanga, Thất Giác Chi. Sau đó bịnh tình của Ðức Phật liền tan biến. (Samyutta Nikaya V, trang 81).
Tâm của con người ảnh hưởng đến thân một cách rất sâu xa và vô cùng kỳ diệu. Nếu ta để tâm buông lung tác hành và duyên theo những tư tưởng ô nhiễm và tồi tệ tâm có thể gây nên tai hại không thể lường được, đến mức độ có thể giết chết một chúng sanh. Tuy nhiên, tâm cũng có thể chữa khỏi một chứng bịnh của thể xác. Nếu ta gom tâm mạnh mẽ vào những tư tưởng chơn chánh, với sự hiểu biết chơn chánh, thì thành quả mà tâm có thể đạt đến thật vô cùng rộng lớn và sâu xạ
"Tâm không những gây bịnh mà còn có thể chữa bịnh, một bịnh nhơn lạc quan có nhiều hy vọng được chữa trị dễ dàng hơn người luôn luôn lo âu và sầu muộn. Trong những trường hợp đã được ghi nhận, có nơi cho thấy đức tin cũng chữa được hầu như tức khắc những chứng bịnh thuộc cơ hữu" (Aldous Huxley - Ends and Means - London 1946. Trang 259).
Giáo Pháp của Ðức Phật - gọi là Phật Pháp - là những lời dạy sáng suốt, đầy trí tuệ. Những ai có nguyện vọng thành đạt sự giác ngộ, trước tiên nên hiểu rõ ràng những trở ngại đang chặn ngang con đường đưa đến giác ngộ.
Theo sự hiểu biết chơn chánh của Ðức Phật, đời sống là khổ. Và sự khổ nầy nương tựa trên vô minh (avijja). Vô minh là thọ cảm những gì không đang được thọ cảm, tức là điều bất thiện. Lại nữa, Vô Minh là không nhận thức được bản chất cấu hợp của năm uẩn, là không nhận thức được những căn và những trần (giác quan và đối tượng của giác quan) và bản chất thật sự của chúng, là không nhận thức được tánh cách rỗng không và tương đối của tứ đại (đất, nước, lửa, gió), không nhận thức được bản chất trọng yếu của những khả năng kiểm soát giác quan (ngũ căn), không thể nhận thức tánh cách thực tiễn, không thể sai lầm, của Tứ Diệu Ðế. Và năm pháp triền cái, tức năm chướng ngại tinh thần, là chất dinh dưỡng cho (hay làm duyên tạo nên) cái vô minh ấy. Năm pháp được gọi là triền cái, hay chướng ngại, vì nó hoàn toàn đóng lại, cắt lìa, và chặn ngang. Năm pháp nầy gây trở ngại cho sự hiểu biết con đường giải thoát ra khỏi đau khổ. Ðó là tham dục (kamacchanda), oán ghét (vyapada), dã dượi hôn trầm (thinamiđha), phóng dật lo âu (uddhacca kukkucca), và hoài nghi (vicikicca).
Cái gì nuôi dưỡng năm triền cái nầy? Thân bất thiện nghiệp, khẩu bất thiện nghiệp, và ý bất thiện nghiệp (tini duccaritani) nuôi dưỡng năm pháp nầỵ Còn ba bất thiện nghiệp nầy lại được nuôi dưỡng bằng giác quan không thu thúc (indriya asamvaro). Không thu thúc và sân thâm nhập vào sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm.
Không thu thúc lục căn vì thiếu giác tỉnh, không niệm, không hay biết đầy đủ (asati asampajjanna). Theo đoạn kinh đề cập đến vấn đề dinh dưỡng; để đối tượng bị lôi cuốn đi mất, để sự hiểu biết về ba đặc tính của kiếp sinh tồn (vô thường, khổ, vô ngã) thoát ra khỏi tâm, lãng quên thực chất của sự vật, là lý do làm cho ta không thu thúc lục căn. Chính trong những lúc không nhận thức bản chất vô thường, khổ, vô ngã của sự vật ta tự buông lơi cho bao nhiêu loại tự do thân, khẩu mặc tình tạo bất thiện nghiệp và để cho trí tưởng tượng mặc tình trôi chảy theo dòng tư tưởng bất thiện. Thiếu hay biết đầy đủ là:
1. Thiếu sự hay biết đầy đủ về mục tiêu (sattha sampajjanna);
2. thiếu sự hay biết về tánh cách thích nghi (sappaya sampajjann);
3. thiếu sự hay biết về phương sách (gocara sampajjanna);
4. thiếu sự hay biết về tánh cách sáng suốt, không si mê (asammoha sampajjanna).
Khi ta làm việc gì mà không có mục tiêu chánh đáng, khi ta nhìn sự vật và có hành động không giúp tăng trưởng điều thiện, khi ta làm điều gì không thuận lợi cho sự cải thiện, khi ta quên Giáo Pháp (Dhamma) tức là quên phương sách chơn chánh mà ta đang cố gắng thành đạt, khi ta bám víu vào những vật một cách si mê, mà ta lầm tưởng là đáng được ưa thích, đẹp đẽ, trường tồn, hữu ngã, khi ta làm như vậy là ta nuôi dưỡng sự không thu thúc lục căn.
Nằm bên dưới lớp thiếu tâm niệm và thiếu sự hiểu biết đầy đủ, có sự suy tư không chơn chánh (ayoniso manasikara, chăm chú không chánh đáng). Kinh điển ghi rằng suy tư không chơn chánh là tư tưởng sai lầm, đi ra ngoài con đường chơn chánh, có nghĩ là xem cái vô thường là thường còn, cái khổ là vui thích, vô ngã là linh hồn trường cửu, thiện xem là bất thiện, cái xấu, trái lại, thấy là tốt. Cuộc lặn hụp kéo dài mãi mãi trong vòng luân hồi bắt nguồn từ suy tư không chơn chánh. Suy tư không chơn chánh càng gia tăng, lớp si mê càng gia tăng, và càng bám chặt hơn vào kiếp sinh tồn. Vô minh đã hiện hữu, toàn khối đau khổ do đó cũng phát sanh. Vậy, người suy tư nông cạn cũng tựa hồ như chiếc thuyền trôi giạt theo chiều gió, như đàn cừu bị cuốn trong giòng nước lũ, như bò mang ách, mãi mãi xuôi ngược trong vòng luân hồi.
Kinh sách cũng dạy rằng một niềm tin không trọn vẹn (assaddhiyam) nơi Phật, Pháp, Tăng là điều kiện phát triển suy tư không chơn chánh. Và không có niềm tin trọn vẹn vì không nghe Chơn Lý, Giáo Pháp (Dhamma). Cuối cùng không được nghe Chơn Lý vì không đến gần bậc thiện trí, không kết hợp với người tốt (asappurisa samsevo).
Rốt cùng, sự thiếu bạn lành (kalyana mittata) là lý do căn bản sanh ra những tệ hại trên thế gian. Và ngược lại, nền tảng và chất dinh dưỡng của điều tốt là tình bằng hữu trong sạch, kết bạn với người lành, người cho ta thức ăn làm bằng chất liệu của Giáo Pháp cao thượng, những gì tạo cho ta niềm tin nơi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.
Khi ta có niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo ta sẽ có suy tư sâu xa và chơn chánh, có tâm niệm và sự hay biết đầy đủ, có thu thúc lục căn, có thân, khẩu, ý thiện nghiệp, có tứ niệm xứ, có bảy yếu tố của sự giác ngộ và có trí tuệ đưa đến giải thoát, tuần tự điều nầy kế tiếp điều kia .
1. Niệm
Bây giờ chúng ta hãy đề cập đến từng Giác Chi một. Yếu tố đầu tiên của sự giác ngộ là Sati, Niệm. Niệm là phương tiện hữu hiệu nhứt để tự kiểm soát, tự làm chủ lấy mình. Bất luận ai, khi hành chánh niệm là đã tìm ra con đường giải thoát. Niệm có bốn là: suy niệm về xác thân (Kayanupasana, niệm thân), về những cảm giác (Vedananupassana, niệm thọ), về tâm (Citanupassana, niệm tâm) và các đối tượng tâm ý (Dhammanupassana, niệm pháp).
Niệm là một đức tánh vô cùng quan trọng. Người thiếu tâm niệm không thể thành tựu được gì đáng kể. Ngay trước giờ lâm chung, lời di chúc tối hậu của Ðức Phật là:
"Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy kiên trì chăm chú để thành đạt giải thoát".
(Vaya dhamma sankhara, appamadena sampadetha) - (Parinibbana Sutta, Digha N., Kinh Ðại Niết-Bàn, Trường A-Hàm số 16).
Và lời khuyên dạy cuối cùng của Ðức Xá-Lợi-Phất, vị đại đệ tử của Ðức Thế Tôn là:
"Hãy gia công chuyên niệm, kiên trì chăm chú! Ðây là lời khuyên dạy của ta".
(Sampadetha appamadena esa me anusasana)
Trong cả hai trường hợp, Ðức Phật và Ðức Xá-Lợi-Phất đều dùng một danh từ rất quan trọng "appamadena", có nghĩa là không ngừng chăm chú, chăm chú một cách kiên trì, liên tục, không gián đoạn: Luôn luôn giữ tâm niệm. Con người không thể giữ tâm niệm được nếu trong lúc thức không hoàn toàn giác tỉnh, không hay biết đầy đủ hành động bằng thân, khẩu hay ý của mình trong từng giây từng phút. Chỉ có khi nào hoàn toàn giác tỉnh và hay biết đầy đủ những hành động của mình con người mới phân biệt được điều nào thiện, điều nào bất thiện, đâu là chánh và đâu là tà. Chỉ trong ánh sáng của tâm niệm con người mới nhìn thấy cái đẹp hay cái xấu của hành động mình.
Xuyên qua bộ Tam Tạng Kinh, danh từ "apamada" luôn luôn được dùng theo nghĩa sati, niệm. Pamada là tâm không niệm, tâm buông lung, tâm không kiểm soát. Trong bộ Tăng Nhứt A-Hàm, Anguttara Nikaya, Ðức Phật dạy:
"Nầy chư Tỳ-khưu, Như Lai không thấy gì có năng lực hùng mạnh như tâm niệm, để làm phát sanh những tư tưởng thiện chưa phát sanh, và làm tan biến những tư tưởng bất thiện đã phát sanh. Với người có tâm niệm, những tư tưởng thiện, nếu chưa phát sanh, sẽ phát sanh, và những tư tưởng bất thiện, nếu đã phát sanh, sẽ tan biến".
Trạng thái tâm thường xuyên giác tỉnh và kiên trì tinh tấn là điều cần thiết để tránh những hành động bất thiện vì để thực hiện những thiện nghiệp. Con người luôn luôn chú tâm, con người luôn luôn tự bao trùm quanh mình bằng một cái tâm giác tỉnh (satima), con người can đảm và quyết tâm trì chí, con người ấy sẽ chạy vượt lên trước trạng thái dã dượi buông lung (pamatto), không khác nào một tuấn mã chạy vượt lên, bỏ lại phía sau đàn ngựa tầm thường, già yếu, ốm đau. Tầm quan trọng của tâm niệm (sati), trong tất cả mọi hành động của ta được diễn tả một cách rõ ràng và mạnh mẽ trong những lời sau đây của chính Ðức Thế Tôn:
"Tâm niệm, nầy chư Tỳ-Khưu, Như-Lai tuyên bố, tâm niệm là yếu tố tối cần thiết trong mọi việc, bất luận nơi nàọ Tâm niệm (trong đời sống) cũng thiết yếu như muối trong ca-ry". (Trung A-Hàm, Majjhima Nikaya).
Ðời sống của Ðức Phật là một hình ảnh trọn vẹn của tâm niệm. Ngài là Sada sato, luôn luôn giác tỉnh, luôn luôn giữ chánh niệm. Không bao giờ có một trường hợp nào ta thấy đức Phật có dấu hiệu dã dượi tinh thần, uể oải tâm trí, hay tâm bất tại.
Nói theo một lối, có tâm niệm, tức có sự chăm chú, sự hay biết đầy đủ là quí hơn có kiến thức, bởi vì trong khi không có tâm niệm, trong khi không chú tâm, thì không thể sử dụng hữu hiệu kiến thức của mình. Dù có hiểu biết mà không chú tâm vào việc làm thì kiến thức cũng không giúp được gì. Một trí óc thông minh sáng suốt mà không có sự chú tâm thường dẫn dắt con người đi sai đường lạc nẻo và quyến rủ con người bước ra khỏi con đường chơn chánh. Chỉ đến những người hiểu biết đầy đủ và trí óc thông minh cũng không thấy được sự vật một cách chơn chánh trong giây phút dể duôi để tâm buông lung, trong khoảnh khắc không nắm vững đức tánh vô cùng quan trọng của tâm niệm. Bao nhiêu người quyền quí cao sang phải bị chỉ trích nghiêm khắc mà không thể chối cãi được chỉ vì hành động vô ý thức hay có những lời bất cẩn trong lúc không chú tâm đến hậu quả của nó. Tâm niệm là đặc điểm chánh yếu của những hành động trong sạch có khuynh hướng đem lợi lạc đến cho ta và cho kẻ khác.
"Tâm niệm dẫn đến lợi ích to lớn".
"Appamado mahato atthaya samvattati!" (Tạp A-Hàm, Samyutta Nikaya, Sagathaka Vagga).
Ðó là sự phát triển tâm linh ở mức độ cao nhứt, và đó là con đường mà ta phải trải qua để thoát ra khỏi mọi đau khổ của vòng luân hồi. Không thể giải thoát nếu không có tâm niệm.
"Người thích thú trong sự chuyên cần chánh niệm và nhìn phóng dật với tâm sợ hãi không còn phải rơi trở xuống. Vị ấy đã đối diện với Niết-Bàn".
(Pháp Cú Kinh, câu 32.)
2. Trạch pháp
Giác Chi thứ nhì là Dhammavicaya, Trạch Pháp, tức nhiệt thành khảo sát Giáo Pháp. Trạch Pháp là kiến thức sâu sắc và có tánh cách phân tách đến chi tiết để thấu đạt trọn vẹn thực chất của tất cả những vật cấu tạo - các pháp hữu vi - vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri. Trạch Pháp là thấy đúng thực tướng của sự vật, thấy sự vật theo đúng chân tướng của nó. Trạch Pháp là phân tách tất cả các pháp hữu vi một cách rốt ráo, đến những nguyên tố căn bản, phân tách chí đến cùng tột. Do nhờ nhiệt thành khảo sát như vậy mà ta có thể nhận thức rằng tất cả các pháp hữu vi đều phải trải qua những giai đoạn sanh, trụ, và diệt (upada, thiti, và bhanga) một cách vô cùng nhanh chóng, đến độ khó có thể quan niệm được. Ðây là những giai đoạn phát sanh, phát triển đến tột độ, rồi chấm dứt, cũng như nước trong một giòng sông, lên cao đến tột độ rồi ròng trở xuống. Toàn thể vũ trụ đều liên tục biến đổi, không thể tồn tại giống hệt trong hai khoảnh khắc kế tiếp.
Trong thực tế, mỗi sự vật đều phải có nhân, duyên và quả (hetu, paccaya và phala). Sự chăm chú chánh đáng (yoniso manasikara, hướng tâm về điều thiện) phát sanh một cách tự nhiên nếu ta giữ tâm chánh niệm, và thúc giục ta phân biện, lý luận, và khảo sát. Sự suy nghĩ nông cạn, chăm chú không chánh đáng (ayoniso manasikara, hướng tâm về điều bất thiện) làm tâm trí dơ bẩn và do đó không thể khảo sát bản chất của sự vật. Người như vậy không thể thấy nhân và quả, hột và trái, trạng thái phát sanh và hoại diệt của các pháp hữu vi, những vật cấu tạọ Ðức Phật dạy: "Giáo pháp nầy để cho bậc cao minh chớ không phải để cho kẻ thiển trí".
Trong Phật Giáo không có sự áp bức hay cưỡng chế. Phật Giáo không đòi hỏi tín đồ một đức tin mù quáng. Ngay từ lúc ban đầu, người có tâm hoài nghi lấy làm thỏa thích mà nghe lời kêu gọi nên khảo sát, nên suy xét tận tường trước khi chấp nhận. Toàn thể giáo lý của Ðức Phật, từ đầu đến cuối, được phơi bày trọn vẹn cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có tâm để thấu hiểu. Ðức Phật không bao giờ tìm cách bắt ép các tín đồ để áp đặt một đức tin mù quáng, một đức tin có tánh cách lệ thuộc, phục tùng, nơi chính Ngài hay nơi Giáo Pháp. Ngài dẫn dắt các môn đệ theo phương pháp phân biện và sáng suốt khảo sát. Ðối với những người Kalama muốn tìm hiểu, Ðức Phật dạy:
"Hoài nghi là hữu lý, nêu lên những câu hỏi về điều gì ta còn hoài nghi và về điều gì ta chưa hiểu rõ là hữu lý. Về một vấn đề, khi còn hoài nghi ắt có sự phân vân phát sanh".
Chúng ta còn có thể đọc lại được cuộc đối thoại giữa Ðức Phật và các đệ tử Ngài như sau:
"Bây giờ, nếu hiểu biết điều này, và nhận thức điều nầy, các thầy nói "Chúng ta tôn kính Ðức Bổn Sư, và vì tôn kính Ðức Bổn Sư chúng ta phải tôn kính những gì Ngài dạy", có nên nói vậy chăng?
-- Bạch hoá Ðức Thế Tôn, không.
-- Ðiều gì các thầy xác nhận, nầy chư Tỳ-Khưu, có phải chăng chỉ vì chính tự các thầy đã nhìn, đã nhận định và đã nắm vững như vậỷ
-- Bạch hóa Ðức Thế Tôn, đúng như vậy . (Trung A-Hàm, Majjhima Nikaya, kinh số 28)
Ðúng theo thái độ hoàn toàn chơn chánh như vậy của người đi tìm chơn lý, các triết gia về sau ghi nhận:
"Cũng như người trí tuệ thử vàng, xem có y hay không, bằng cách đốt lên, cắt ra và chà trên một loại đá để thử vàng, cùng thế ấy các người chỉ nên chấp nhận lời nói của ta sau khi xem xét tận tường chớ không vì kính nể và sùng bái ta". (Jnasara-Samuccaya tr. 31)
Như vậy giáo lý có tánh cách phân tích (vibhajjavada) của Ðức Phật không chấp nhận đức tin mù quáng. Chơn lý của Giáo Pháp (Dhamma) chỉ có thể thấu đạt do tâm định yên lặng và do trí tuệ trực giác (samatha), thiền "định", và tuệ minh sát (Vipassana). Ðức tin mù quáng không bao giờ rọi sáng chơn lý cho bất luận ai. người tìm chơn lý không thỏa mãn được với một sự hiểu biết phớt qua trên bề mặt mà muốn lặn sâu vào bên trong và thấy tận mắt những gì ở lớp dưới. Ðó là phương cách tìm hiểu mà Phật Giáo khuyến khích. Tìm hiểu như vậy mới dẫn đến chánh kiến.
Kinh điển Phật Giáo có một đoạn như sau:
"Có lần nọ Upali, một tín đồ nhiệt thành của Nigantha Nathaputta, môn phái Jain, đến viếng Ðức Phật, chăm chú lắng nghe Ngài giảng Giáo Pháp (Dhamma), phát sanh đức tin, (sadha, niềm tin căn cứ trên sự hiểu biết) và ngỏ ý sẵn sàng trở nên một tín đồ của Ðức Bổn Sư. Tuy nhiên Ðức Phật nói: "Ðể đi đến chơn lý, nầy Upali, hãy khảo sát tận tường..".
Như vậy, chẳng những Ngài không hối thúc hay khuyến dụ Upali theo Ngài mà còn khuyên chẳng nên vội theo. Ðiều nầy chỉ rõ rằng Ðức Phật không tìm cách làm cho người khác suy tưởng như mình, hay như người của mình. Ngài không tìm cách bước xen vào tự do tư tưởng của người khác, bởi vì tự do tư tưởng là quyền căn bản của mọi người, từ lúc mới sanh ra. Áp đặt cho người khác một lối sống không thích hợp với tâm tánh và quan điểm của họ không hợp với nguyện vọng và khuynh hướng tinh thần của họ là một điều sai lầm. Sự cưỡng chế, bất luận dưới hình thức nào, cũng không tốt. Bắt người khác phải trợn trạo nuốt vào những niềm tin không có chút mùi vị nào thì quả thật là loại áp bức tối đen nhứt. Nuôi dưỡng bằng cách cưỡng bách như thế không thể đem lợi ích lại cho bất luận ai, bất luận ở đâu.
Người có trau dồi Trạch Pháp (Dhammaviccaya) hướng tâm niệm vào năm nhóm của sự bám bíu (Pancapadanakkhandha, năm thủ uẩn), gia công chuyên cần để nhận thức trạng thái phát sanh và hoại diệt, (sanh diệt, udaya-vaya) của sự cấu hợp năng lực nầy (suddha sankhara punja), sự trôi chảy của "danh sắc" nầy (Nama-rupa santati). Chỉ đến khi nhận thức đầy đủ bản chất vô thường của chính danh và sắc của mình, người ấy mới chứng nghiệm được hạnh phúc, phỉ lạc. Do đó có câu:
"Yato yato sammasati - khandhanam udaya-bbayam
"Labhati piti pamojam - amatam tam vijanatam".

"Mỗi khi suy niệm về pháp sanh diệt của các uẩn người ấy đạt phỉ lạc.
Ðối với những ai thấu hiểu (suy niệm ấy) là Bất Tử". (Pháp Cú Kinh, câu 374)
Những gì vô thường, không bền vững, người ấy thấy là khổ. Những gì vô thường và khổ, người ấy nhận thức là vô ngã, không có một linh hồn trường tồn bất biến, không có một tự ngã, một thực thể vĩnh cửu gọi là "ta". Chính sự nắm vững, sự thấu đạt, sự chứng ngộ ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã (anicca, dukkha và anatta) ấy được gọi là tuệ minh sát (vipassana nana) hay sự thấu triệt sâu sắc. Và sự chứng đạt nầy cũng dường như lưỡi dao cạo, cạo sạch tất cả những khuynh hướng tiềm tàng ngủ ngầm (anussaya) và cùng lúc, cạo sạch tất cả những mầm móng tạo khổ. Người ấy đã lên đến tuyệt đỉnh cao của sự chứng ngộ, người ấy là một vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo, người đã có cái nhìn rõ ràng, có trí tuệ sâu sắc, có sự hiểu biết ăn sâu vào các thâm cung bí hiểm của đời sống, và nhận thức trọn vẹn bản chất thật sự vùi lấp dưới lớp mặt bên ngoài. Người ấy đã đứng vững trên hai chơn và không còn bị những lạc thú phù du làm mê hoặc. Người ấy không còn bị những cái kinh hoàng bề ngoài làm bận lòng. Người ấy không thể còn ôm ấp một quan điểm mù mờ về các hiện tượng của thế gian vì đã vượt lên khỏi mọi lầm lạc, nhờ tuệ minh sát sâu sắc và chỉ có tuệ minh sát sâu sắc mới có thể đem lại quan kiến toàn hảo, không thể lầm lạc.
3. Tinh tấn
Yếu tố thứ ba của sự Giác Ngộ là Viriya, Tinh Tấn. Tinh Tấn là một tâm sở (cetasika), mà cũng là chi thứ sáu trong Bát Chánh Ðạo, Chánh Tinh Tấn (Samma-Vayama).
Ðời sống Ðức Phật cho thấy rằng không bao giờ Ngài có một sự mệt mỏi tinh thần hay đạo đức. Từ lúc thành đạt đạo quả đến giây phút cuối cùng của kiếp sống Ngài luôn luôn cố gắng nâng cao phẩm hạnh con người, không bao giờ dã dượi tinh thần mặc dầu thể xác Ngài lắm khi phải mỏi mệt, ốm đau, và mặc dầu phải trải qua bao nhiêu trở ngại cam go và những nghịch cảnh của đời sống. Trong cố gắng đem hạnh phúc an lành đến cho nhơn loại, Ðức Phật không bao giờ ngừng nghỉ. Không phải lúc nào Ngài cũng khỏe mạnh, nhưng về mặt tinh thần không bao giờ Ngài ngưng cố gắng, không bao giờ Ngài giảm sút tinh tấn chuyên cần. Có những vần thơ mô tả Ngài như sau:
"Bậc toàn thắng quả thật là tuyệt vời.
Ngài luôn luôn chuyên cần tinh tấn, không bao giờ biết mệt.
Ðể đem phước lành đến cho tất cả chúng sanh,
Ðem tiện nghi đến cho mọi cuộc sống".

Phật Giáo để cho người thành thật nhiệt tâm, người dũng mãnh, người quyết tâm thành đạt mục tiêu cứu cánh chớ không phải để cho người dã dượi lười biếng (araddhaviriyassayam dhammo nayam dhammo kusitassa). (Anguttara N., iv, 232)
Ðức Phật không bao giờ tự xưng Ngài là Ðấng cứu thế, có khả năng và ý chí lãnh chịu tội lỗi của nhơn loại. Trái lại Ngài dạy rằng mỗi người phải mang lấy gánh nặng những hành động bất thiện của mình. Theo đúng lời của chính Ðức Phật, mỗi cá nhơn phải tự mình cố gắng, tự mình chuyên cần tinh tấn đầy đủ mức độ cần thiết và tự mình thăng tiến trên đường giải thoát. Ðức Phật chỉ là người "Vạch Ra Con Ðường". Ngài chỉ khám phá và rọi sáng Con Ðường cho những ai muốn đi trên con đường ấy chớ Ngài không phải là đấng cứu thế có quyền năng cứu rỗi "linh hồn" bằng một tôn giáo thần khải. Quan điểm chủ trương rằng có một nhơn vật đem con người từ thấp lên cao và cuối cùng cứu thoát luôn con người ra mọi đau khổ của đời sống - (một quan điểm như vậy) có khuynh hướng làm cho con người trở nên dã dượi và yếu đuối, uể oải và si cuồng. Một cách gián tiếp người khác có thể hướng đến ta một cánh tay hỗ trợ, nhưng muốn thoát ra khỏi mọi khổ đau của đời sống mỗi người phải tự đặt mình lên hòn đe rồi tự đập vỗ, uốn nắn mình bằng hành động của chính mình.
"Hãy tự lấy con làm hải đảo cho con, hãy lấy con làm nơi nương tựa cho con".Kinh Ðại Niết-Bàn (Parinibbana Sutta) - Trường A-hàm (Digha Nikaya) số 16.
Bất luận ở vào trường hợp nào, người đã bước theo dấu chơn của Ðức Thế Tôn không nên mất niềm hy vọng và ngừng cố gắng, bởi vì chính Ðức Phật không bao giờ thối chí hay chểnh mảng. Ngài luôn luôn dũng mãnh và tinh tấn. Chẳng những trong kiếp sống cuối cùng mà trong nhiều kiếp, từ thời còn là Bồ-Tát, tức người có nguyện vọng thành đạt đạo quả Phật, phương châm của Ngài luôn luôn là "manivatta abhikkhama", "không chùn bước, luôn luôn thẳng tiến". Người có tâm niệm (satima) và có trau dồi trạch pháp nên tiến thêm một bước, tinh tấn lên, cố gắng đúng mức cần thiết để vượt lên, vạch ra con đường thoát.
Nhiệm vụ của tinh tấn có bốn là:
1. tinh tấn tận diệt những điều bất thiện đã phát sanh trong tâm;
2. tinh tấn đè nén, ngăn ngừa, không để cho các bất thiện pháp phát sanh;
3. tinh tấn phát triển những thiện pháp chưa phát sanh; và
4. tinh tấn trau dồi và làm cho các thiện pháp phát sanh càng thêm dồi dào phát triển.
Kinh Vitakka Santhana Suttanta trong bộ Trung A-Hàm (Majjhima Nikaya, số 20) ghi rằng:
"Cũng như người thợ mộc chuyên nghiệp hay người tập sự thợ mộc dùng một cây đinh nhỏ để lôi ra một cây lớn hơn, cùng thế ấy, khi có một ý nghĩ phát sanh đến thầy tỳ - khưu mà có tánh cách bất thiện, xấu, nghĩa là liên hợp với tham, sân, si, thầy phải tạo trong tâm một ý nghĩ trước và liên hợp với thiện pháp. Do đó những bất thiện pháp sẽ biến tan và cùng với sự tan biến của bất thiện pháp, tâm của thầy tỳ - khưu trở nên ổn cố, trong sạch, an trụ và định".
Ðối với người lười biếng, không tinh tấn. Con Ðường Trong Sạch (Thanh Tịnh Ðạo) đã khóa chặc. Người có nguyện vọng thành đạt giác ngộ (bodhi) phải tự un đúc cho mình một ý chí dũng mãnh cùng với đức tinh tấn không thối chuyển. Giác Ngộ và Giải Thoát nằm trọn vẹn và tuyệt đối trong tay của chính tạ
"Chính con người phải tự mình quyết định kiên trì nỗ lực, vươn lên, và mở đường đến tận cánh cổng đưa vào tự dọ Và bất luận lúc nào con người luôn luôn có đủ khả năng để làm việc ấỵ Cánh cổng không bao giờ khóa chặc lại, chìa khóa cũng không nằm trong tay ai mà ta phải van vái nguyện cầu để được ban bố. Cánh cửa không bao giờ gài, đóng, hay khóa, trừ phi chính con người đã gài, đóng và khóa nó lại".
Bằng những lời dạy và bằng gương lành trong sáng Ðức Phật đã biểu hiện một đời sống chuyên cần tinh tấn tột độ. Hãy lắng nghe lời dạy của Ngài:
"Người sống tiêu cực, uể oải, không tinh tấn chuyên cần, lúc phải chuyên cần tinh tấn, người mà, dầu trẻ tuổi khỏe mạnh, vẫn lười biếng và có tinh thần suy nhược, người ấy không có trí tuệ để chứng ngộ Con Ðường". (Pháp Cú Kinh, câu 280.)
Là tín đồ, bước theo dấu chơn của Ðức Phật, người Phật tử tự nghĩ:
"Mặc dầu chỉ còn da, gân và xương, máu đã cạn dần, thịt đã teo và mỗi ngày càng thêm tàn héo, ta sẽ không bỏ dở cuộc chiến đấu và bước ra ngoài con đường ngay thẳng và giác ngộ".
4. Phỉ
Yếu tố giác ngộ thứ tư là Piti, Phỉ. Phỉ, cũng là một tâm sở (cetasika) và cũng là một đức tánh có ảnh hưởng sâu rộng bao gồm cả tâm lẫn thân. Người thiếu đức tánh nầy không thể đi dài theo con đường giác ngộ. Một nỗi buồn mang máng, một trạng thái lãnh đạm trước thiện pháp, một sự bất mãn đối với pháp tham thiền, một sự biểu lộ bất toại nguyện sẽ phát sanh đến người thiếu tâm phỉ. Như vậy tâm phỉ quả thật là thiết yếu. Người đã có nguyện vọng và cố gắng thành đạt giác ngộ và giải thoát cuối cùng ra khỏi những ràng buộc của cuộc đi bất định trong vòng luân hồi cần phải cố gắng trau dồi yếu tố "phỉ" vô cùng quan trọng này. Không ai có thể ban tặng hạnh phúc cho một người khác. Mỗi người phải tự xây dựng hạnh phúc cho riêng mình, bằng sự cố gắng của chính mình, bằng suy niệm, và bằng những hoạt động tích cực để làm cho tâm an trụ. Phỉ, hạnh phúc, là một tâm sở, nghĩa là một phần của tâm. Vì lẽ ấy không nên tìm hạnh phúc ở bên ngoài, mặc dầu ở một mức độ nhỏ bé nào, cảnh vật bên ngoài cũng ảnh hưởng đến tâm.
Tri túc là đặc điểm của hạnh phúc cá nhơn. Người thường trong thế gian hình như có ý nghĩ rằng rất khó trau dồi và phát triển tri túc. Tuy nhiên nếu ta kiên trì dũng mãnh, quyết tâm trì chí, chú ý và suy tư chơn chánh về những gì mà chúng ta thường gặp hàng ngày, nếu ta kiểm soát những khuynh hướng bất thiện và kềm hãm những thúc giục của nhục dục ngũ trần, nếu ta đè nén những quyến rũ vật chất bất thiện mà ta thường riu ríu phục tùng vâng theo một cách hồn nhiên không kịp suy nghĩ, ắt ta có thể giữ tâm khỏi bị ô nhiễm, và chừng ấy chúng ta có thể cảm giác hạnh phúc của sự tri túc.
Trong tâm của con người thường xảy ra những cuộc xung đột đủ loại. Những cuộc xung đột này phải được kiểm soát - mặc dầu ta chưa đủ khả năng để loại trừ hẳn. Con người phải giữ mình, chớ nên buông lỏng để cho những khuynh hướng xấu xa và những dục vọng lôi kéọ Nói cách khác, phải trau dồi hạnh tri túc. Quả thật là khó từ bỏ những gì lừa phỉnh ta và bắt giữ ta làm nô lệ, và quả thật là khó xua đuổi loại tà ma đang chế ngự tâm hồn ta dưới hình thức tư tưởng xấu xa, bất thiện. Những loại ma quỉ đó là sự biểu hiện của tham, sân, si (lobha, dosa, moha). Cho đến ngày nào chúng ta đạt đến tuyệt đỉnh của trạng thái trong sạch và an tịnh bằng cách trường kỳ rèn luyện tâm trí, chúng ta không thể hoàn toàn và trọn vẹn chiến thắng những vị khách xấu xa và rất khó tánh ấy, những người khách đang chế ngự tâm ta. Từ bỏ suông những gì ở bên ngoài như nhịn đói, gội rửa dưới sông hay ở các suối nước nóng v.v... không thể thanh lọc con người, không thể đem hạnh phúc đến con người, không thể làm cho con người trở thành bậc thánh nhơn. Do đó cần phải phát triển và trau dồi Con Ðường Trong Sạch (Thanh Tịnh Ðạo) của Ðức Phật: giới, định, tuệ (sila, samadhi, panna).
Khi đề cập đến hạnh phúc - theo tinh thần Thất Giác Chi - ta nên ghi nhận sự khác biệt giữa thỏa thích và hạnh phúc. Sự thỏa thích, hay thọ hỷ, cảm giác vui, là một cái gì tạm bợ, nhứt thời, chỉ thoáng qua rồi mất. Có sai lầm không khi ta nói rằng cảm giác thỏa thích chỉ là một dấu hiệu báo trước cho biết sự đau khổ sắp đến? Những gì mà trong khoảnh khắc nầy người ta ôm ấp và tưng tiu như một bảo vật có thể đã là một phần đau khổ trong khoảnh khắc kế tiếp. Vật mà ta mong muốn đã không còn đó nữa khi ta vói tay nắm lấy nó, hoặc lúc ta vừa nắm được nó thì nó đã tan biến như một nắm tuyết. Theo lời của Robert Burns:
"Lạc thú trên đời không khác nào những cành hoa toét nở,
Anh vừa nắm lấy nó thì những tai hoa tả tơi rơi rụng.
Hay cũng như tuyết đổ trên giòng sông,
Vừa thấy trắng sáng bỗng chốc đã tan biến mãi mãi trong nước".

Khi thấy một hình sắc, nghe một âm thanh, ngửi một mùi, nếm một vị, nhận thức một ý kiến thì người ta bị các đối tượng của ngũ quan và của tâm kích thích, người ta cảm nghe ít nhiều thỏa thích. Nhưng tất cả những điều ấy đều là những hiện tượng tạm thời, vừa phát sanh là đã hoại diệt. Loài thú chỉ nhắm vào mục tiêu duy nhứt là tìm thỏa thích ở bất luận đâu, với bất luận giá nào. Con người trái lại, phải cố gắng thành đạt tâm phỉ lạc, Piti, hay hạnh phúc. Hạnh phúc thật sự, hay phỉ, không thể đến bằng cách bám bíu hay nắm chặt lấy những vật vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri, mà chỉ có thể đạt đến bằng sự dứt bỏ (nekkhama). Chính thái độ từ khước những gì thuộc về thế gian mới đem lại hạnh phúc thật sự. Kinh Niệm Xứ (Satipatthana Sutta) có đề cập đến cảm giác thỏa thích của thế gian (thọ hỷ, samisa sukha) và cảm giác thỏa thích ngoài thế gian (niramisa sukha). Niramisa cao quí hơn nhiều.
Một lần nọ Ðức Phật vào thôn xóm trì bình mà không có gì để ngọ trai. Có người tọc mạch, tánh ưa xen vào chuyện của người khác, để ý rằng rõ ràng thấy Ðức Phật đói bụng. Nhơn đó Ðức Phật giải thích thái độ tinh thần của người đã thoát ra khỏi mọi chướng ngại như sau:
"Hạnh phúc thay Như Lai sống không bị chướng ngại. Dưỡng nuôi phỉ lạc, Như Lai lúc nào cũng như các vị Trời ở cảnh Quang Âm Thiên". (Pháp Cú, câu 200)
Hạnh phúc sẽ đến với ai suy tư như nhau: Có kẻ gây tổn thương người khác, ta sẽ không gây tổn thương bất luận ai. Kẻ khác có thể giết hại sanh linh, nhưng ta sẽ không sát hại chúng sanh nào. Kẻ khác có thể làm điều tà dâm, nhưng ta sẽ luôn luôn trong trắng. Kẻ khác có thể gian dối, nhưng ta chỉ nói những lời chơn thật. Kẻ khác có thể nói lời đâm thọc, thô lỗ hay nhảm nhí nhưng ta chỉ nói những lời đem lại hòa hợp, những lời thanh lịch, êm tai, đầy tình thương, những lời làm cho tâm trí thỏa thích, những lời đáng nói, đúng lúc, đúng nơi, thích nghi với hoàn cảnh. Kẻ khác có thể tham lam nhưng ta sẽ không tham. Ta sẽ tinh tấn, khiêm tốn, luôn luôn chơn thật và liêm chánh, an tịnh, tri túc, rộng lượng và thành thật trong mọi trường hợp. Bằng cách trên, giác chi "phỉ" (piti) dẫn đến chứng ngộ trọn vẹn, trì tuệ hoàn hảo, đến Niết-Bàn.
5. Khinh an
Passadhi, An, yên lặng, hay an tĩnh là giác chi thứ năm. Passadhi có hai là kaya passadhi, thường được dịch là thân an, và citta passadhi, tâm an. Trong danh từ kaya passadhi, chữ kaya mà thường được dịch là thân ở đây không có nghĩa là thể xác vật chất. Kaya ở đay bao gồm toàn thể các tâm sở. Nói cách khác, Kaya passadhi là sự an tĩnh của thọ uẩn (vedanakkhandha). Citta passadhi, tâm an là trạng thái an tĩnh của thức uẩn (vinnanakkhandha).
Passadhi, an, có thể ví như cảm giác an tĩnh của người đi đường mệt mỏi lúc ngồi lại dưới tàng bóng mát mẻ của một cội cây, hay có thể ví như trạng thái thoải mái dễ chịu của người đang ở chỗ nóng nực được một cơn mưa mát mẻ tưới xuống. Lắng tâm là việc khó thực hiện. Tâm luôn luôn chao động và có khuynh hướng không bao giờ ở yên một chỗ. Rất khó cột tâm và rất khó kéo tâm trở lại. Tâm ở trong trạng thái giống như con cá mới bị bắt ra khỏi nước và vứt trên đất khô (Pháp Cú Kinh, câu 34). Ðó là bản chất của cái tâm vô cùng tế nhị. Suy tư chơn chánh giúp cho con người có nguyện vọng thành đạt giác ngộ kềm lại, làm cho cái tâm chao động trở nên yên tĩnh. Chỉ có khi nào trau dồi tâm "An" mới có thể phát triển tâm trụ. Một cái tâm an tĩnh không chấp nhận những tư tưởng xấu xa.
Nhiều người nghĩ rằng sống buông lung, không hạn chế, là tự dọ Tự do là không hạn chế, và tự rèn luyện, tự khép mình vào khuôn khổ kỷ cương, tự uốn nắn lấy mình là cản trở sự phát triển, là mất tự dọ Giáo lý của Ðức Phật dạy khác hẳn. Cái "ta", cái tự ngã, phải được khắc phục và được rèn luyện theo đúng chiều hướng để trở nên thật sự tốt đẹp. Ðức Như Lai, Bậc Ðã Ðược Rèn Luyện, truyền dạy Giáo Pháp (Dhamma) với chủ đích rèn luyện tâm của con người (danto so Bhaghava damataya dhammam deseti - Trường A-Hàm, Digha Nikaya, kinh số 25).
Chỉ khi nào được an tĩnh và được hướng dẫn trong vòng trật tự trên đường tiến bộ chơn chánh tâm mới có thể trở nên hữu dụng cho chính mình và cho xã hội. Tâm vô trật tự là một hiểm họa cho cá nhơn mình và cho kẻ khác. Tất cả những tàn phá trên thế gian đã được gây nên do những người không biết phải làm thế nào để tâm được an tĩnh, quân bình, ổn định. Bình tĩnh và trầm lặng không phải là yếu hèn. Thái độ trầm tĩnh lúc nào cũng biểu lộ một con người có giáo dục, con người có rèn luyện, có sống trong kỷ cương. Nếu tất cả sự vật xung quanh ta đều được an bài một cách thuận lợi thì giữ mình trầm tĩnh không phải là khó. Nhưng giữ tâm bình thản giữa những nghịch cảnh thì thật là khó, và chính cái đức độ khó có được ấy mới là điều đáng cho ta tận lực cố gắng để thành tựu, bởi vì nhờ kiểm soát tâm như vậy ta xây dựng cho chính ta một bẫm tánh dũng mãnh và cương nghị. Quả thật là vô cùng thất vọng nếu ta tưởng tượng rằng chỉ có những người ồn ào mới là dũng mãnh hay chỉ có người lăng xăng rối rắm cả ngày mới thật sự có khả năng.
Người đã trau dồi tâm an tĩnh không còn phiền lụy, bối rối hay cảm kích khi phải đương đầu với tám pháp thăng trầm của thế sự (atthaloka dhamma). Người ấy cố gắng nhận thức sự phát sanh và hoại diệt của những vật cấu tạo, trạng thái thăng và trầm của mọi hiện tượng. Người ấy không còn phiền não, lo âu, và phóng dật. Người ấy sẽ thấy rõ tánh cách mỏng manh và nhứt thời trong những sự vật mỏng manh chỉ tồn tại nhứt thời.
Kinh điển có ghi câu chuyện của một bà nọ được hỏi sao không khóc than cái chết của người con yêu quí, bà trả lời: --"Không ai mời mọc, nó đến. Cũng không ai mời mọc, nó đi. Ðến như thế nào nó ra đi cũng thế ấy. Vậy, than khóc có ích gì? rên rĩ ích gì?
Ðó là lợi ích của tâm an tĩnh. Một cái tâm an tĩnh không chao động trước cảnh được hay thua, tán dương hay khiển trách, và không bàng hoàng hay phiền não trước những nghịch cảnh của đời sống. Muốn có được tâm bình thản như thế phải nhìn thế gian vô thường nầy đúng trong bối cảnh của nó. Vậy, trạng thái an tĩnh, passadhi, đưa con người đến giác ngộ và giải thoát con người ra khỏi mọi khổ đau của đời sống.
6. Ðịnh
Yếu tố thứ sáu của sự giác ngộ là Ðịnh (Samadhi). Chỉ có tâm an tĩnh mới dễ dàng trụ vào đề mục tham thiền. Tâm an và trụ mới thấy sự vật đúng theo chơn tướng của sự vật (samahito vatha bhutam pajanati). Tâm trụ vào một điểm có khả năng chế ngự năm chướng ngại tinh thần (panca nivarana, năm pháp triền cái).
Ðịnh là trạng thái ổn định vững chắc của tâm, có thể ví như cây đèn đứng ngọn, vững vàng, không chao động, ở một nơi không có gió. Chính "định" làm cho tâm vững, yên một chỗ, không bị chao động. Khi được thực hành đúng "định", samadhi, giữ tâm và các tâm sở trong trạng thái quân bình cũng như cán cân được giữ vững giữa hai bàn cân. Chánh Ðịnh tiêu trừ những khát vọng làm chao động tâm, cùng lúc thanh lọc ô nhiễm và làm cho tâm trở nên tinh khiết. Một cái tâm định không bị nhục dục ngũ trần làm chao động. Khi tâm định được phát triển đến cao độ thì dầu ở trong hoàn cảnh trái nghịch nào cũng không chao động.
Người muốn trau dồi tâm định phải quyết tâm nghiêm trì giới luật (sila) bởi vì chính giới luật nuôi dưỡng đời sống tâm linh và làm cho tâm kết hợp lại và trở nên an tĩnh, quân bình, và dồi dào phong phú. Tâm buông lung tự làm cho mình rời rạc bằng những hoạt động vô ích.
Người thực hành pháp tham thiền - tức người có nguyện vọng thành đạt giác ngộ - phải đương đầu với rất nhiều chướng ngại. Nhưng đặc biệt có năm pháp ngăn trở mạnh mẽ tâm định (samadhi) và chặn ngang con đường giải thoát. Theo đúng lời của Ðức Thế Tôn, đó là panca nivarana, năm pháp triền cái. Danh từ nivarana trong Phạn ngữ có nghĩa là cái gì gây trở ngại, hay chặn ngang sự phát triển tinh thần (bhavana). Ðược gọi là nivarana, triền cái, bởi vì nó khóa chặt lại, cắt dứt lìa, và chặn ngang. Nó đóng chặt cánh cửa giải thoát. Năm pháp triền cái là:
1. Kamacchanda: Tham dục
2. Vyapada: Oán ghét
3. Thina-middha: Dã dượi - hôn trầm
4. Uddhacca-kukkucca: Phóng dật - lo âu
5. Vicikiccha: Hoài nghi
Kamacchanda là ham muốn mạnh mẽ các sở hữu, hay thỏa mãn những dục vọng thấp hèn, là sợi dây đầu tiên trói buộc chúng sanh vào cuộc đi bất định của vòng luân hồi và đóng chặt cánh của giải thoát. Dục vọng là gì? Ái dục (tanha) ấy xuất xứ và phát sanh từ đâủ Theo kinh Niệm Xứ (Satipatthana Sutta) "Nơi nào có hoan hỉ và thỏa thích thì ái dục bắt nguồn và phát sanh". Sắc, thính, hương, vị, xúc, pháp là những nơi có tánh cách hoan hỉ và thỏa thích, nơi ấy ái dục phát sanh và bắt nguồn. Khi ái dục bị trở ngại thì trở thành bất mãn và phẫn nộ. Kinh Pháp Cú có câu:
"Tanhaya jayati soko - tanhaya jayati bhayam
Tanhaya vippamuttassa - nathi soko kuto bhayam"

"Ái dục sanh sầu muộn, ái dục sanh lo sợ
Người đã trọn vẹn dập tắt ái dục không còn sầu muộn, càng ít lo sợ"
(Pháp cú , câu 216
Pháp triền cái kế đó là Vyapada, oán ghét, ác ý, sân hận, hay bất toại nguyện. Con người nổi dậy và chống đối một cách tự nhiên những gì không vừa lòng thích thú, những gì không làm cho mình thoả mãn cũng chán nản vì những điều nầy. Xa cách người thân kẻ yêu là đau khổ. Kết hợp với người không ưa thích cũng đau khổ dường ấỵ Chí đến một món ăn không vừa miệng, một thức uống không hợp ý thích, một tư cách khó thương, và trăm ngàn nghịch cảnh khác mà ta có thể gặp trong đời sống làm cho ta bất toại nguyện. Suy tư sai lầm, chăm chú không chơn chánh (ayonisa manasikara) làm cho ta tức giận. Ðàng khác, sân hận dưỡng nuôi sân hận và làm mờ trí óc, bóp méo tâm và tâm sở, làm cho ta thấy sai sự thật, do đó trở ngại sự thức tỉnh, ngăn chặn ánh sáng chơn lý và khóa chặt con đường đưa đến tự do. Tham và sân đặt nền tảng trên si, tuyệt đỉnh của mọi điên rồ của chúng ta (avijja paramam malam). Tham, sân, si quả thật là căn nguyên của tất cả mọi xung đột, mọi tranh chấp và mọi chia rẽ giữa người và người, quốc gia và quốc gia.
Chướng ngại tinh thần thứ ba gồm một cặp hai tệ hại: thina và middha. Thina là sự mệt mỏi hay trạng thái dã dượi của tâm và Middha, hôn trầm, là trạng thái dã dượi của tâm sở. Thina và Middha, chắc chắn không phải là sự biếng nhác thuộc về thể xác bởi vì chí đến chư vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo, đã tận diệt cặp triền cái thina-middha, vẫn còn thọ cảm sự mệt mỏi về thể xác. Dã dượi và hôn trầm làm chậm trễ sự phát triển tâm linh. Do ảnh hưởng của thina-middha, dã dượi hôn trầm, tâm không thể hoạt động, ví như bơ đặt quá cứng không thể trét lên bánh, hay như mạch nha dính trên muỗng.
Trạng thái hôn trầm là kẻ thù nguy hại của sự phát triển tâm linh. Một trạng thái hôn trầm dẫn đến trạng thái hôn trầm hơn, hơn nữa, và cuối cùng đến trạng thái dửng dưng chai lì. Bẩm tánh như nhược như vậy là một trở ngại trên đường chơn chánh và tự do. Nhờ tinh tấn, Viriya, hay sự cố gắng tinh thần, có thể khắc phục cặp tệ hại trên.
Pháp triền cái thứ tư bao gồm cặp Uddhacca-Kukkucca, phóng dật lo âu. Thông thường tâm của người có lỗi không yên, hay bồn chồn. Kẻ có tội và người thiếu kiên nhẫn thường bị chướng ngại nầỵ Tâm phóng dật và không ổn định giống như bầy ong vỡ ổ. Sự chao động tinh thần cản trở công trình hành thiền và khóa kín con đường đi lên. Tâm lo âu cũng tai hại như vậỵ Người ta thường ăn năn những tội đã làm. Ðức Phật không tán dương thái độ hối tiếc ấy bởi vì khi sữa đã đổ rơi xuống đất thì than khóc mấy cũng không lợi ích gì. Thay vì khóc than rên rĩ những thiếu sót như vậy ta nên lập tâm cố gắng không còn lập lại hành động bất thiện tương tự trong tương lai. Có người băn khoăn vì đã chểnh mảng bỏ lỡ một cơ hội tạo thiện nghiệp hay đã lãng quên một phận sự. Ðiều nầy cũng vậy, vô ích. Làm như thế không khác nào đứng trên một bờ sông rồi bảo cái bờ bên kia xích qua để cho mình bước lên. Thay vì luống công vô ích như lo âu về các hành động thiện mà ta bỏ lỡ không làm, hãy cố gắng tạo thiện nghiệp, một cách tích cực. Trạng thái bất ổn tinh thần (kukkucca, lo âu) cũng là một chướng ngại cho tiến bộ.
Pháp triền cái thứ năm và cuối cùng là Vicikiccha, Hoài Nghi. Danh từ Pàli vi + cikiccha, đúng theo nghĩa từng chữ, là không thuốc chữa. Người mang bịnh hoài nghi, quả thật đã lầm một chứng bịnh nan y. Cho đến chừng nào, và ngoại trừ khi nào xa lìa hoài nghi, ta vẫn còn phải chịu khổ đau vì chứng bịnh nầy. Ngày nào mà con người còn hoài nghi thì con người còn tiếp tục có một quan kiến bất định về sự vật và đó là một sự thiệt hại vô cùng to lớn cho sự phát triển tâm linh. Các nhà chú giải giải thích rằng hoài nghi là không thể quyết định điều gì một cách chắc chắn. Hoài nghi ở đây cũng là không tin rằng người ta có thể đắc Thiền (Jhana). Về điểm nầy ta có thể thêm rằng dầu là người không phải Phật tử hay không biết gì đến Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) cũng có thể khắc phục triền cái hoài nghi (Vicikiccha) và đắc Thiền (Jhana).
Một hành giả đã đắc Thiền tạm thời chế ngự tất cả năm chướng ngại, bằng năm chi Thiền:
- Kamacchanda (tham dục) do chi Thiền Ekaggata (nhứt điểm tâm, hay trụ) chế ngự,
- Vyapada (oán ghét) do chi Thiền Piti (Phỉ),
- Thina-middha (dã dượi - hôn trầm) do chi Thiền Vitakka (Tầm),
- Uddhacca-kukkucca (phóng dật - lo âu) do chi Thiền Sukha (Lạc) và
- Vicikicca (Hoài Nghi) do chi Thiền Vicara (Sát) chế ngự.
Tuy nhiên, đắc Thiền không phải là mục tiêu cuối cùng. Ðắc Thiền (Jhana) phải dẫn đến minh sát (vipassana). Nhờ minh sát hành giả mới tận diệt những ô nhiễm tiềm tàng ngủ ngầm (anusaya kilesa) và đạt đến trạng thái hoàn toàn trong sạch.
Ngày nào các ô nhiễm (kilesa) còn tiềm tàng tồn tại trong tâm con người ngày ấy ác pháp (papa) còn có thể tiếp tục phát sanh. Người đã đắc Thiền (Jhana) vẫn còn phải nhắm đến mục tiêu cao hơn là minh sát. Người đã đắc Thiền không còn tạo nghiệp bất thiện vì đã chế ngự được năm pháp triền cái, tuy nhiên, ô nhiễm vẫn còn tiềm tàng sâu kín bên trong và như vậy, chưa đạt đến trạng thái tuyệt đối châu toàn. Nhưng vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo, đã gội rửa tất cả mọi ô nhiễm đến tận cùng gốc rễ và đã chấm dứt mọi cuộc đi thênh thang bất định trong vòng luân hồi. Ngài là bậc đã chắc chắn chấm dứt mọi cuộc sống bởi vì đã làm cho kiếp sống cao quí của Ngài trở nên hoàn hảo, hoàn toàn trong sạch và đã hoàn tất mỹ mãn những gì phải làm. Ðối với Ngài không còn kiếp sống nào khác. (Trung A-Hàm, Majjhima Nikaya, số 27).
Một sinh viên chuyên cần, chăm chú sâu xa vào bài học, cắt đứt liên lạc với mọi yếu tố chao động bên ngoài, tự rút vào một nơi yên tĩnh và tự bao trùm bằng một bầu không khí thuận lợi cho việc học, và chỉ lo học. Sinh viên này sẽ thành công, đến kỳ thi sẽ đậu. Cùng thế ấy, hành giả rút vào tịnh thất hay một nơi yên tĩnh khác "xa những cuộc tranh chấp đê hèn của đám đông điên rồ", chú tâm vào đề mục tham thiền (kammatthana) và chiến đấu, và không ngừng tinh tấn chế ngự năm pháp triền cái, thanh lọc mọi ô nhiễm trong luồng tâm, và dần dần đạt đến sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, rồi từ đó, do nhờ năng lực của tâm định (samadhi) hướng tâm quán xét để thấu đạt thực tại trong ý nghĩa cao siêu nhứt.
Ðến giai đoạn nầy hành giả trau dồi thiền minh sát, vipassana. Nhờ minh sát ta mới thấu đạt được bản chất thật sự của các pháp hữu vi, các nguyên tố cấu tạo, và các vật cấu tạọ Thiền Minh Sát giúp ta thấy sự vật đúng thực chất của sự vật, thấy như thật sự, sự vật là như vậy, thấy chơn lý diện đối diện và nhận thức rằng mọi giọng điệu đều chỉ là những âm thanh khác nhau phát xuất từ một dây đờn và ngân nga từ kiếp nầy sang kiếp khác, sợi dây đờn được làm ra bằng chất liệu vô thường, khổ, vô ngã.
Hành giả hướng tuệ minh sát (vipassana-nana) vào thực chất của thế gian mà đã từ lâu, mình vẫn bám bíụ Bây giờ hành giả khảy mỏ, phá vỡ cái vỏ trứng của vô minh để tưng bừng mỡ tung ra cảnh siêu thế. Với sự thanh lọc trọn vẹn cuối cùng nầy hành giả đã thành đạt mức tiếp nhận Ánh Sáng của Niết - Bàn, sự vắng lặng mà không ngôn ngữ tại thế nào diễn đạt được, sự giải thoát tâm không thể thối chuyển (akuppa ceto vimutti), và thế gian nầy không còn ra gì nữa đối với Ngài.
7. Xả
Giác Chi thứ bảy mà cũng là yếu tố Giác Ngộ cuối cùng là Upekkha, Xả. Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), Upekkha cũng được gọi là tatramajjhattata, trung lập, không thiên bên nào. Ðó là trạng thái tâm quân bình chứ không phải là sự lãnh đạm, dửng dưng. Trạng thái tâm quân bình, hay xả, là kết quả của tâm định an tĩnh. Quả thật là khó tránh cho khỏi bị chao động khi phải va chạm thường xuyên với những cảnh thăng trầm của đời sống, nhưng người có trau dồi đức tánh "xả" khó có được nầy không còn cảm nghe phiền lụy hay bực dọc. Giữa cơn bão táp của tám pháp thăng trầm (atthaloka dhamma): được và thua, danh thơm và tiếng xấu, tán dương và khiển trách, đau khổ và hạnh phúc, người có tâm xả không bao giờ lay động. Người ấy vững chắc như tảng đá to. Dĩ nhiên đó là thái độ của một vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo. Ðể mô tả tâm trạng bình thản của Ngài, Kinh Pháp Cú có câu:
"Người tốt dứt bỏ tất cả. Bậc Thánh nhơn không nhắc đến ái dục.
Dầu hạnh phúc hay đau khổ bậc thiện trí không bồng bột cũng không để tinh thần suy sụp". (Pháp cú, câu83).
Kiêng cữ các chất say vốn có thể làm mê mờ tâm trí; và một cách kiên trì, trong sạch và chuyên cần tinh tấn, bậc thiện trí rèn luyện tâm và nhờ đó đạt đến trạng thái tâm an tĩnh, tự tại.
Chúng ta có thể làm được như vậy không? Lời giải đáp của Lord Horder rất thích thú:
".. câu trả lời sẽ là "được". Nhưng bằng cách nào? Thật ra, không phải bằng cách làm một cái gì vĩ đại. Tại sao các vị Thánh nhơn là Thánh? Có người hỏi như thế, và câu trả lời sẽ đến như sau: "Bởi vì các Ngài vẫn hoan hỉ trong những hoàn cảnh khó hoan hỉ và nhẫn nại trong lúc khó nhẫn nại. Các Ngài vẫn gia công tiến bước trong khi lòng muốn dừng, và trong khi muốn nói, các Ngài giữ lặng im". Chỉ thế thôi. Thật giản dị, những cũng rất khó thực hành. Ðó là vấn đề giữ tâm tinh khiết, một vấn đề vệ sinh tinh thần".
Có những vần thơ như sau:
"Tỏ ra dễ mến thật không khó lắm
Khi đời sống chảy trôi như một bài ca suông sẻ.
Nhưng người có thể mỉm cười
Khi sự vật xáo trộn, sai hẳn mọi ước vọng,
Người ấy mới thật là quí".

Kinh điển có ghi nhận bốn con đường sai lạc (catari agati): Con đường tham ái (chanda), con đưòng sân hận (dosa), con đường khiếp nhược (bhaya), và con đường si mê (moha). Người ta tạo nghiệp bất thiện vì đi trên một hay nhiều con đường sai lạc ấy, nhưng người hoàn toàn bình thản nhờ đã trau dồi tâm xả, luôn luôn xa lánh những con đường ấy. Tánh cách vô tư và tinh khiết của người có tâm xả làm cho người ấy nhìn sự vật và chúng sanh một cách không thiên vị.
Người thật sự muốn trau dồi tâm xả cần phải hiểu biết về sự báo ứng của nghiệp, nhân đã gieo sẽ trổ quả như thế nào. Trong ánh sáng của định luật nghiệp báo ta sẽ có thể chấp nhận một thái độ dứt bỏ đối với tất cả chúng sanh, hơn nữa, chí đến những vật vô tri vô giác. Nguyên nhân gần đưa đến tâm xả là sự nhận thức rằng tất cả chúng sanh đều là hậu quả của cái nghiệp của chính mình.
Trong Bodhicaryavatara, Santideva viết như sau:
"Có người oán ghét ta. Như vậy
Tại sao ta thỏa thích khi được ca tụng?
Có người khen tặng ta. Như vậy
Tại sao ta than van trước những lời khiển trách?

"Người tự chủ luôn luôn
Có nụ cười trên môi. Người ấy đã lìa bỏ gương mặt cau có,
Sẵn sàng tiếp đón kẻ khác, và chia sớt
Tất cả gì mình có. Người bạn của toàn thể thế gian,
Chơn Lý sẽ tôn vương."

Kết luận
Ở đây người viết cố gắng trình bày những nét đại cương của Thất Giác Chi mà Ðức Thế Tôn đã giảng giải hơn 2.500 năm về trước. Ðây là bảy yếu tố của sự Giác Ngộ để đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ hoàn hảo, Niết-Bàn, Vô-Sanh Bất-diệt. Còn trau dồi phát triển hay quên lảng bỏ lơ các yếu tố nầy là phần việc của chúng ta, của từng người trong chúng tạ Nhờ sự hỗ trợ của Giáo Pháp, mỗi người trong chúng ta có đủ khả năng để khám phá và tiêu trừ nguồn gốc của đau khổ. Từng cá nhơn một, mỗi người có thể vận dụng sự tinh tấn cần thiết để thành đạt giải thoát của chính mình.
Ðức Phật dậy ta làm thế nào để am tường thực tướng của đời sống, và Ngài đã chỉ dẫn hướng đi để cho mọi người chúng ta có thể tìm hiểu. Như vậy, chúng ta chỉ nương nhờ nơi chúng ta để tự tìm lấy chơn lý về đời sống, để hưởng dụng sự hiểu biết ấy một cách lợi ích. Ta không thể nói để chạy tội rằng chúng ta không phải biết làm thế nào.
Trong Giáo Lý của Ðức Phật không có gì mờ ám. Tất cả những chỉ dẫn cần thiết đã được trình bày rõ ràng. Giáo Pháp từ đầu đến cuối đã được mở rộng cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có tâm để hiểu biết. "Giáo Pháp của Ngài trong sáng và rõ ràng đến độ không thể lầm lẫn" (Fielding Hall - The Soul Of A People). Về phần chúng ta, điều cần thiết duy nhất cần phải làm để chứng ngộ trọn vẹn chơn lý là quyết tâm trì chí, gia công học và đem điều đã học ra thực hành trong đời sống hàng ngày, mỗi người cho chính mình, mỗi người cố gắng hết sức của mình. Giáo Pháp hãy còn vẩy tay chào đón khách hành hương mệt mỏi để đưa vào một cảnh Trời tươi đẹp nào, hay hơn nữa, đưa đến trạng thái châu toàn và vắng lặng của Niết-Bàn. Vậy, chúng ta hãy tinh tấn lên, hãy trau dồi Thất Giác Chi với tâm đạo nhiệt thành, với ý chí dũng mãnh và hãy thẳng tiến:
"Hồi tưởng đến các bậc Thánh Nhơn của thời xa xưa
Nhớ lại các Ngài đã sống thế nào,
Chí đến ngày nay - mặc dầu chỉ là đàn hậu tấn -
Ta vẫn còn có thể thành tựu
Con Ðường Cao Thượng của An Bình".
Cầu mong tất cả chúng sanh được an vui hạnh phúc!
Hòa thượng Piyadassi
(Copy từ: https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha309.htm)

Saturday, 23 May 2020

PHÁP HÀNH THẤT GIÁC CHI 1 - Thầy Thích Bảo Nguyên



Hỏi: Bạch thầy. Chúng con có 1 điều chưa được sáng tỏ. Vào đầu tháng thứ 1 chúng ta gặp những cảm thọ khốc liệt chết điếng. Lúc đó dầu chúng con như bị ai đó dùng lưỡi dao khoánh mạnh rất đau đớn. Tim chúng con nhói lên từng hồi như có hàng chục mũi kim đâm liên tục. Xương đùi chúng con như bị gãy, cử động là đau. Chưa kể chúng con còn bị đau họng, xổ mũi, ho khan. Lúc đó tâm chúng con vẫn bất động trước nhưng cảm thọ này, không hề cảm thấy sợ hãi hay bất an. Trí tuệ chúng con biết đây là nhân quả của mình và cũng hiểu những cảm thọ này cũng là pháp vô thường sinh diệt, chúng con dùng ý thức và lòng từ bi hướng đến từng chỗ đau trên thân thể mình, hướng đến đâu thì cảm thọ tan đến đấy. Lúc này mũi chúng con vẫn nghẹt, khó thở do bị ho cảm cúm. Chúng con theo dõi hơi thở ra vào tự nhiên thì 1 lúc mũi được thông trở lại, cảm thọ đau họng sổ mũi cũng không còn. Bạch Thầy! Như vậy đấy có phải là lực của thất giác tri không ạ? Đây là cái điều chúng con băn khoăn từ lâu. Hôm nay chúng con đủ duyên thưa hỏi thầy. Mong thầy giải thích và hướng dẫn chúng con thêm.

Pháp THẤT GIÁC CHI khi tu tập và hành pháp này nó có 2 giai đoạn: giai đoạn 1 là HÀNH PHÁP, giai đoạn 2 là CHỨNG PHÁP. Khi mình tu tập giai đoạn hành pháp để vượt qua các cảm thọ, các tham ưu thì Phật dạy mình phải tu tập pháp 7 giác chi. Nếu trên thân mình có tham ưu, cảm thọ nào, nó làm mình mất cái giác chi ấy thì mình phải lấy cái pháp giác chi đó ra mình tu.

Thí dụ bây giờ trong thân mình có cảm thọ đau nhức phải không? Khi cảm thọ khổ tác động trên thân, nó làm cho mình mất đi trạng thái Khinh An Giác Chi. Bây giờ mình xả đi thọ khổ, cái cảm thọ đau trên thân này thì mình phải tu tập Khinh An Giác Chi và Hỉ Giác Chi. Có nghĩa là khi mình tu tập pháp 7 giác chi, khi tu nó phải câu hữu các giác chi còn lại để nó hướng tâm xả các cảm thọ, các chướng ngại trên thân của nó. Thí dụ bây giờ cái cảm thọ đau trên thân này, để nhiếp phục nó, để xả nó, mình phải TRẠCH PHÁP GIÁC CHI trước. Khi mình trạch pháp, chỉ cho là mình hiểu rõ ra cái sự thật của cái chướng ngại ấy. Ví dụ cảm thọ đau, mình hiểu rằng cái thọ đau này là vô thường, là nhân quả của mình trước đây mình đã tạo, hôm nay đủ duyên nó đến. Hoặc trên thân này nó có những cảm thọ nóng bức, lạnh, v.v… thì mình cũng trạch ra cái pháp biết rằng cảm thọ này là vô thường thôi. Bây giờ nó nóng bây giờ nó lạnh, khi hết duyên thì nó hết, cái sự nóng lạnh nó cũng là pháp vô thường, và cái cảm thọ bệnh tật nó cũng là pháp vô thường. khi đủ duyên thì nó hợp, hết duyên thì nó tan.

Lúc mình tư duy, mình trạch pháp ra, đó là mình đang Trạch Pháp Giác Chi. Khi mình Trạch Pháp Giác Chi xong, mình an trú trong XẢ GIÁC CHI để cho mình vượt qua cảm thọ này. Để giúp cho mình vượt qua cảm thọ này thì mình phải TINH TẤN GIÁC CHI. Tinh Tấn Giác Chi có nghĩa là mình phải SIÊNG NĂNG NHIẾP PHỤC, không sợ hãi, không lo lắng cảm thọ khổ trên thân thì nó mới giúp cho mình vượt qua cảm thọ này.

Cho nên khi mình hành pháp giác chi này để vượt qua cảm thọ, nó phải CÂU HỮU tất cả CÁC GIÁC CHI CÒN LẠI để nó trạch ra đúng cái tướng trạng của các tham ưu trên thân này. Và khi con tu tập như vậy là hầu hết mình dùng ý thức phải không? Gọi là Ý THỨC LỰC. Mình dùng ý thức của mình để mình tư duy, để mình hiểu ra mọi sự thật thì nó tạo thành LỰC GIÁC CHI về sau. Sau này khi kết quả của giác chi nó sung mãn, nó tạo ra cái lực của DỤC NHƯ Ý TÚC. Thầy có giảng về bài “Tứ như ý túc”. 

Dục như ý túc là cái muốn, chỉ cần mình hướng tâm đến cái sự thật, cái cảm thọ, cái chướng ngại ấy thì tự nhiên cái cảm thọ nó sẽ tan biến liền. Mình không có sợ hãi, mình không có lo lắng cảm thọ khổ này trên thân. Khi giác chi mình đã sung mãn rồi nó có năng lực của nó. Thì lúc này nó tạo thành dục như ý túc trong 4 thần túc. Khi nó có lực rồi lúc này con không còn tu tập trên cái giác chi gì nữa. Tại vì lúc này giác chi nó tạo thành cái QUẢ rồi, cái quả nó tạo thành dục như ý túc.

Trong kinh Thức ăn đức Phật nói: Thức ăn của Tứ thần túc là gì? Đó là 7 giác chi. Khi 7 giác chi nó sung mãn rồi thì tự nó tạo ra cái lực của Dục như ý túc. Thí dụ như bây giờ khi trên cái thân này, cái ác pháp hay cảm thọ gì đến thì lúc này mình phải dùng cái dục như ý túc để mình hướng tâm. Lúc này con không phải tác ý giống như ban đầu nữa, mà nó trở thành nội lực. Chỉ cần con hướng tâm tới cái cảm thọ gì thì cảm thọ kia nó sẽ nhiếp phục. Đó là cái lực của giác chi. Cái lực của giác chi lúc này nó trở thành cái quả. Khi mình tác ý như vậy để nó xả đi cảm thọ, thì nó trở về trạng thái tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự. Đó là cái quả của 7 giác chi khi nó thành tựu.

Còn khi con đang tu tập, đang hành pháp thì con đang thực hiện ĐỊNH GIÁC CHI là như thế nào, khi con đang tu tập Định giác chi ý?

Bạch thầy, con bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

Đúng rồi. Có nghĩa là khi mình đang hành pháp, đang tu thì tâm mình phải bất động trước ác pháp và cảm thọ, gọi là tâm định trên thân, tâm bất động. Muốn có Định giác chi này thì mình phải có Trạch Pháp Giác Chi và phải có Niệm Giác Chi. "Niệm" chỉ cho là mình Chánh niệm tỉnh giác, mình thấy rõ cái cảm thọ này nó là vô thường, không có thật, đừng có sợ nó. Do mình an trú trong Trạch Pháp Giác Chi, Niệm Giác Chi như vậy mà nó xả được cảm thọ này, thì tự nó có Định Giác Chi. Cho nên khi mình tu tập giác chi nào thì nó phải có câu hữu cái giác chi kia để nó thanh tịnh cái giác chi này.

Tâm mình nó lăng xăng khởi những cái niệm này niệm kia, khi tâm mình lăng xăng khởi niệm thì lúc này mình phải tu pháp là Niệm Giác Chi – Chánh Niệm Tỉnh Giác. Trên Niệm Giác Chi này, dù là niệm thiện hay niệm ác nó đến thì mình cũng phải biết. Nếu mình không biết, nó trở thành cái niệm vô minh rồi, nó trở thành niệm bất lạc bất khổ thọ. Ở đây khi cái niệm nó khởi ra, dù là niệm thiện hay niệm ác mà nó không nhận ra cái niệm ấy đó là niệm bất lạc bất khổ thọ, hoặc nó rớt vào trạng thái không ngơ hoặc là không tưởng, nó không nhận ra cái niệm ấy. Cho nên khi mà tâm con nó khởi ra cái niệm gì thì mình phải thực hiện Niệm Giác Chi. Đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác, mà muốn thực hiện Niệm Giác Chi, con phải Trạch Pháp Giác Chi ra, để con tư duy. Trạch Pháp Giác Chi là tư duy, tư duy để mình hiểu cái niệm này, mình thông suốt nó như thật, từ đó mình sẽ hướng đến xả giác chi.  

Khi mình đang tu tập 7 giác chi, cái pháp Xả Giác Chi là cái phần cuối cùng, chỉ cho là mình tác ý mình xả để tâm mình nó an trú vào cái tâm bất động. Cho nên khi mình thực hiện giai đoạn hành pháp giác chi này thì nó phải câu hữu với các pháp để mà nó tư duy, để nó trạch pháp nó sống trong cái niệm giác chi như vậy, nó thông suốt như vậy. Khi nó thông suốt rồi, mình hướng đến Xả Giác Chi, gọi là tác ý đó. Từ đó mà nó giúp cho mình nhiếp phục các tham ưu, các cảm thọ. Trong quá trình con tu tập như vậy, những năng lực giác chi này từ từ nó tạo thành cái nội lực, chứ không phải tự nhiên mà nó có nội lực 7 giác chi.

Khi mình hành 1 pháp nào thì nó phải tập hợp các pháp ấy. Trong bài kinh thức ăn đức Phật nói rất rõ. Đầu tiên đức Phật nói thức ăn của Tứ thần túc là gì? Đó là 7 giác chi. Và thức ăn của 7 giác chi là gì? Đó là tứ niệm xứ - chỉ cho 4 chỗ thân thọ tâm pháp. Thức ăn của Tứ niệm xứ là gì? Đó là 3 thiện hạnh – chỉ cho 3 hành động thân khẩu ý, 3 nơi này nó thanh tịnh rồi thì tự nó là Tứ Niệm Xứ. Như vậy thức ăn của 3 thiện hạnh là gì? Đó là hộ trì các căn – chỉ cho 6 căn của mình, hàng ngày mình phải phòng hộ, sống đúng thiện hạnh để nó ly dục ly ác pháp, từ đó mà 3 thiện hạnh này nó mới thanh tịnh. Như vậy thức ăn của hộ trì các căn này là gì? Đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác. Muốn hộ trì các căn này thì mình phải có Chánh Niệm Tỉnh Giác – mình giác ra các căn này như thật các pháp, để từ đó mình xả tâm, để tâm mình hướng đến ly dục ly ác pháp, để cho 3 thiện hạnh thân khẩu ý được thanh tịnh.

Như vậy khi mình đang hành pháp để đưa đến sung mãn 7 giác chi thì nó phải câu hữu với các pháp để nó tư duy, để nó trạch pháp, nó sống trong niệm giác chi như vậy, nó thông suốt như vậy. Khi nó thông suốt, mình hướng đến Xả Giác Chi – tác ý nhiếp phục các tham ưu này. Từ đó các giác chi này mới thành tựu được.

Hồi nãy con nói đó, khi có những chướng ngại, có cảm thọ khổ trên thân nó đến, con hướng tâm trạch pháp, tác ý xả thì đó là con đang hành pháp giác chi. Cái giai đoạn này là con đang nhiếp phục tham ưu, mình phải tư duy để mình quán mình xả nó. Sau này khi nó đã sung mãn rồi, nó trở thành cái lực của Tứ thần túc – gọi là Dục như ý túc. Con nên nhớ nha, cái quả của 7 giác chi là Tứ thần túc. Lúc này những chướng ngại nào nó đến, chỉ cần con hướng tâm đến là nó nhiếp phục liền.

Hỏi: Bạch thầy! Khi đang tu tập và sung mãn 7 giác chi thì như thầy dạy có những cái niệm: niệm ác và những vọng tưởng nó khởi lên nhưng mà trong sự tu tập này thì tất nhiên cái tâm tham, tức là cái tâm mà mình bị ảnh hưởng bởi cái niệm ấy nó không còn đúng không thầy? Ví dụ mình nó động lên, nó nghĩ đến 1 điều đã qua trong quá khứ, cái niệm ấy nó là 1 cái niệm ác, 1 cái hoàn cảnh khổ của mình trước đây, nhưng lúc đó cái lực của 7 giác chi nó đang sung mãn, thì mặc dù nó khởi niệm nhưng cái dục - sự chi phối nó hoàn toàn nó bất động. Bạch thầy có phải như thế không ạ?

Cái niệm quá khứ, cái niệm phiền não mặc dù nó không còn tác động chi phối, nhưng mà mình cũng phải ở trên niệm cái Niệm giác chi – chỉ cho là Chánh niệm tỉnh giác. Mình cũng phải hiểu nó, mà trước khi hiểu nó thì mình cũng phải trạch pháp để mình hiểu nó như thật, ví dụ cái niệm này nó cũng là vô thường, nó là pháp duyên hợp duyên tan thôi. Khi mình đã hiểu biết rồi, mình hướng đến xả giác chi. Khi mình tác ý, mình làm chủ nó, mình bất động với nó rồi. Nhiều khi có những cái niệm nó vừa đến, mình biết nó, nó đi liền. Đó là do mình có Chánh Niệm Tỉnh Giác tốt thì nó pháp huy cái giác chi này rất là tốt. Chứ không phải là cái niệm mình nó khởi ra nó còn lậu hoặc nha.

Hỏi: Bạch thầy! Cái này bên Đại thừa dù còn bất kỳ 1 cái niệm thiện niệm ác nào đều là lậu hoặc, họ không chấp nhận bất kỳ 1 cái niệm nào như vậy.

Cho nên vì người ta hiểu sai các pháp hành của Phật. Do đường lối tu tập bất lập văn tự, giáo hoại biệt truyền, chế ra những pháp tu đưa đến diệt ý thức. Còn ở đây Phật dạy mình, những cái niệm gì nó khởi ra, khi nó khởi, nó chưa có phải là lậu hoặc. Lậu hoặc nó có là do đâu? Do mình chấp trước những cái niệm đó. Khi nó khởi ra cái niệm tham, mình chấp trước, mình hành theo cái niệm tham thì nó mới thành lậu hoặc. Còn cái niệm tham nó khởi ra mà mình có trí, có Chánh kiến, mình hiểu biết như thật, mình không hành động theo cái điều tham, mình hướng tâm mình trạch pháp mình xả, không có hành động theo nghiệp tham thì cái niệm này nó không phải là lậu hoặc.

Ở đây mình phải xác định và định nghĩa cái từ “lậu hoặc”. Lậu hoặc là chỉ cho tâm dính mắc, tâm chấp thủ. Do có chấp thủ mà mình tham đắm, mình hành động theo cái tâm tham, sân, si, mạn, nghi của mình. Đó là lậu hoặc. Cho nên ngài Xá-lợi-phất nói, khi 6 căn tiếp xúc với 6 pháp trần, nó chưa phải là kiết sử, nó chưa phải là lậu hoặc. Nếu 6 căn tiếp xúc với 6 pháp trần mà nó bị cái dục chi phối, nó hành động theo cái dục của nó, tham sân si mạn nghi của nó thì mới gọi là có kiết sử, mới gọi là lậu hoặc. Còn 6 căn này nó tiếp xúc với 6 pháp trần, nó hiểu biết nhưng nó không có chấp thủ, nó không có dính mắc, nó không có phóng dật thì tâm ấy không phải là lậu hoặc. Cũng vậy những niệm gì sinh khởi trong tâm mình, khi nó sinh khởi ra mình biết nó như thật, mình không chấp trước, không có hành động theo cái niệm tham sân si mạn nghi này thì nó không phải là lậu hoặc. Chứ không phải là chúng ta khởi niệm ra gọi là lậu hoặc.

Cho nên cách tu tập của Tổ, những cái niệm gì nó khởi ra thì người ấy vẫn còn lậu hoặc, cái gì còn tư duy trên pháp thiện và pháp ác, và người ta xem những hiểu biết những cái niệm này nó là chướng ngại, nó sở đắc, đó là cách tu của các tổ, không niệm thiện không niệm ác. Còn ở đây Phật dạy chúng ta hoàn toàn ngược lại, những cái gì nó khởi ra mà mình có Chánh kiến, Chánh tư duy thì cái niệm này nó trở thành TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Hỏi: Bạch thầy! Như những cái điều mà con hiểu qua những lời Phật dạy, những lời thầy vừa dạy thì có phải người mà đang đến giai đoạn tu tập thất giác chi thì bất kỳ 1 cái vọng tưởng nào, nhớ về những cái điều đã qua, mặc dù đó là những điều xấu những niệm ác, những niệm thiện, mình tự nhiên trong đầu nhớ đến cái điều tốt, điều thiện mình đã làm cho mọi người trong 1 cái hoàn cảnh nào đấy rõ ràng thì bạch thầy trong cái giai đoạn tu tâp đấy thì chắc chắn cái dục tham, cái sự dính mắc, chấp trước là không có đúng không thầy? Nếu con đang tu tập thất giác chi thì không thể có 1 cái niệm mà mình hoan hỉ, mình vui thích cái niệm vừa khởi lên mà nó hoàn toàn bất động trước cái niệm đấy đúng không thầy? Mà nó chỉ dùng pháp hướng, pháp Niệm giác chi câu hữu với Dục định như ý túc tinh cần hành để nó xả những cái niệm đấy, đừng khởi lên quá nhiều, làm mình mất cái trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc vô sự. Bạch thầy, chúng con hiểu như vậy có đúng với lời thầy dyaj không ạ?

Trong niệm Giác chi, Phật dạy Niệm” là nghĩ nhớ những điều đã qua, đã biết từ lâu đã học từ lâu. Thí dụ trước đây mình đọc cái đoạn kinh nào đó thì mình hiểu biết về phần kinh Phật dạy, Niệm giác chi này là niệm thiện, chứ không phải là những cái niệm tham sân si đâu. Niệm giác chi là chánh niệm đó. Niệm này Phật gọi là niệm tư duy: chánh kiến và chánh tư duy. Khi mình nghĩ nhớ những điều gì mình đã hoặc, đã qua, biết đã qua như những điều Phật dạy, nhưng bài kinh, đoạn kinh nào mình đã học qua, bây giờ mình nghĩ nhớ mình biết cái đoạn kinh đó thì những niệm này gọi là niệm thiện, gọi là niệm thiên – niệm tri kiến hiểu biết của mình thì mình cần có tri kiến này, mà trong kinh đức Phật gọi đó là Đa văn. Vị ấy đa văn, nghe nhiều, tích tập và để phòng hộ các căn. Thì trong 7 Vi Diệu Pháp đức Phật có nói những người đa văn, chỉ cho những người học pháp, hiểu biết về các pháp này. Do mình có hiểu biết như vậy, những chướng ngại nào đến thì mình phải an trú vào Niệm giác chi để mình hiểu biết nó như thật, Khi mình hiểu biết như thật, Phật dạy mình hướng tâm tác ý xả, rồi kế đến xả giác chi. Đức Phật nói niệm là nghĩ nhớ những điều đã qua là như vậy.

Hoặc là tùy niệm, tùy niệm là gì? Có nghĩa là ví dụ như cái tâm mình nó còn thèm ăn, nó nghĩ nhớ đến ăn uống. Cái dục nó làm thèm ăn. Khi mà nó vừa khởi lên cái niệm dục ăn, thèm ăn, Phật dạy mình phải TÙY NIỆM: bằng cách mình quán thức ăn bất tịnh, thức ăn này là ô uế, bây giờ nó ngon, khi ăn qua khỏi cổ rồi nó cũng trở thành bất tịnh. Do mình tùy niệm mình quán như vậy mà nó nhàm chán, nó không còn muốn tham ăn, đó là tùy niệm. Hoặc là cái tâm cái thân này nó còn ưa về sắc dục, ái dục thì Phật dạy mình phải tùy niệm mình quán: thân này là bất tịnh thân này là ô uế, trong thân này có vô số thứ bất tịnh: máu, mủ, phân, nước tiểu, đờm, rãi. Đó là nội thân, còn ngoại thân nó chỉ cho là mồi hôi, lông, tóc,… những thứ này nó thuộc về bất tịnh.

Cho nên khi cái tâm mình có những cái niệm về sắc dục, ái dục trên thân tâm này thì Phật dạy mình phải tùy niệm để mình quán mình xả cái dục tham này. Cái tham ưu này. Đó là TÙY NIỆM. Khi mình tu tập vậy là mình đang thực hiện Định Giác Chi. Và khi mình hiểu rồi thì lúc này mình hướng đến Xả Giác Chi mình hướng đến mình xả để mình giữ tâm bất động trước cái cảm thọ sắc dục này của thân.

Như vậy cái Niệm giác chi nó có 2 phần: Niệm là nghĩ nhớ những điều mình đã huân tập, mình đã học pháp, những lời Phật dạy; thứ 2 là Tùy Niệm để mình tư duy hiểu biết các pháp như thật, để mình quán mình xả các cảm thọ, các dục trên thân. Đó là Tùy niệm.

Hỏi: Bạch thầy! Khi mà 1 người đang trong quá trình tu tập thất giác chi và khi tùy niệm và trạch pháp ra những cái niệm thiện ác thì dần dần những cái niệm ấy nó cũng không khởi lên nữa, mặc dù trước đấy họ không có muốn nghĩ đến những điều ấy nhưng nó là những cái điều đã được huân tập, đã được cố định trong tâm trí họ từ lâu và những cái này là những cái biến động rất lớn, thì trong quá trình tu tập 7 giác chi tự nhiên nó khởi lên mặc dù người hành giả không muốn. Nó là 1 cái điều tự nhiên nó khởi lên. Bởi vì có 1 cái lực của 7 giác chi nên tâm nó bất động nó hiểu ra những cái niệm này cũng là pháp vô thường, nó cũng là pháp sinh diệt, nhân quả nên xả những cái niệm đấy. Và lâu dần đến khi sung mãn 7 giác chi thì lần sau bất kỳ 1 niệm thiện ác này đến thì chỉ cần nó dùng cái ý thức nó hướng tâm đến là tự cái niệm đấy nó tan luôn. Bạch thầy, nếu tu tập như vậy thì dần dần về sau nó cũng đi về con đường là nó bật những cái vọng tưởng về quá khứ và tương lai thì bạch thầy chặng đường phía trước như vậy thì ở chỗ này, nó gặp nhau giữa Thiền Nguyên thủy và Thiền Đại thừa ở chỗ là nó bật những vọng tưởng suy nghĩ về quá khứ hay tương lai nhưng nó khác ở chỗ là do có tri kiến có hiểu biết vê các pháp nhân quả sinh diệt vô thường nên những cái niệm này nó dần dần lắng xuống. Còn ở bên thiền đại thừa thì các vị thiền sư dạy đệ tử mới vào là dùng pháp môn nhìn vào tâm mình thấy cái niệm nào niệm ác hay niệm thiện thì ngay đấy mình biết những cái niệm ấy là không thật là hư dối thì ngay đấy mình xả luôn, tức là ngay khi mình vừa nghĩ nhớ đến đều gì thì mình coi những điều đấy là những điều chướng ngại cho công phu tu tập thì mình phải tức khắc mình đoạn tận tất cả những suy nghĩ khởi lên trong đầu. Thì cũng là 2 con đường: 1 con đường của tri kiến xả tâm - con đường của Nguyên Thủy và 1 con đường các Tổ gọi là Tối thượng thừa, tức là ngay từ đầu đã chặt bỏ, bỏ qua những phương tiện để nhảy thẳng vào đất Như Lai thì mắt thấy sắc, khi mùi ngửi hương, khi lưỡi nếm vị, tâm không khởi 1 niệm tâm không có 1 cái suy nghĩ phân biệt nào thì ngay đó là Như Lai, ngay đó là Chư Phật, ngay đó là Đắc đạo. Tức là chỗ đấy là chỗ dừng không cần phải tu tập thêm cái gì nữa. Bởi vì khi 1 hành giả đến giai đoạn từ ngày này quá ngày khác, từ tháng này quá tháng khác, từ năm nay qua năm khác mà cái vọng tưởng về quá khứ về tương lai nó bật nó không tự động nó khởi, theo quan điểm của Phật giáo đại thừa thì đến chỗ này là chỗ người tu đã về nhà rồi, đã đặt mọi người gánh nặng xuống, như kiểu đã ngồi trên lưng trâu mà hát bài ca thôn giã của chú mục đồng. Thì rõ ràng là 2 cái sự bạt vọng tưởng của quan niệm Thiền Nguyên thủy và Thiền Đại thừa, cái pháp tu lúc đầu nó khác nhau, nhưng về sau nó dừng lại ở 1 chỗ, nó gặp nhau ở 1 điểm, nhưng con thấy rõ ràng là cái sự bạt vọng tưởng, cái sự yên lắng thanh tịnh của nội tâm do 1 hành giả thực hành theo pháp Nguyên Thủy nó lìa tham sân si mạn nghi. Còn cái trạng thái cũng bạt vọng tưởng cũng không suy nghĩ hay lăng xăng về quá khứ hay tương lai của 1 vị tu theo thiền đại thừa nó còn rơi rớt lại những cái tham sân si. Khi mà đụng đến cái hoàn cảnh khốc liệt, nghịch cảnh, ngang trái thì lúc đấy những cái tham sân si mạn nghi vi tế nó mới khởi ra thì lúc đấy vị đấy mới biết rằng “ồ, mình chưa vô lậu, mình vẫn còn cái ngã”. Bạch thầy, rõ ràng cái trạng thái giống hệt nhau nhưng khác nhau ở 1 điểm là tu tập theo thiền Nguyên thủy, theo đúng đường lối từ thấp đến cao, có thứ lớp thì nó đoạn tận dần dần tham sân si mạn nghi rất rõ ràng. Còn bên tu tập theo đường lối các Tổ sư thì hoàn toàn những cái phiền não, những cái tham sân si mạn nghi này nó không thể đoạn diệt được. Vì thế nên các kinh điển đại thừa mới xuất hiện để mở ra 1 còn đường tu, 1 hướng thoát cho những người tu vẫn chưa giải thoát để cho họ có 1 niềm hy vọng về tương lai, về con đường Bồ Tát Đạo, về con rất lâu dài, về con đường phía trước rất hy vọng, để cứu độ chúng sinh, để sau khi thành phật rồi thì những tham sân si nó mới đoạn diệt. Còn con thấy thầy dạy chúng nó là khi nhập sơ thiền thì những tham sân si nó đã đoạn tận thì ngay đấy là Niết Bàn. Khi mình xả những quả chứng của tầm tư hỉ lạc nhất tâm thì ngay đó là niết bàn rồi thì chỗ này các vị tổ sư các vị thiền sư bên hệ phái phát triển rõ ràng là cách xa so với những gì chúng con được học, những gì Phật dạy trong hệ phái Nguyên thủy. Bạch thầy, chúng con suy nghĩ như thế mong thầy chứng minh.

Những gì con hiểu biết, có được Chánh trí để mình biết mình đang tu tập ở giai đoạn nào, và đồng thời mình biết cái kết quả pháp hành Phật dạy, khi tu đến đâu thì giải thoát nó hiện tiền đến đó, mình phải biết cái nơi mình đến. Vì chân lý diệt đế nó là sự thật, khi mình diệt được cái khổ thì ngay đó diệt đế nó hiện tiền liền, đâu có chờ thời gian đến để mà thấy, nó có Niết bàn liền. Cho nên chứng Sơ thiền là như vậy. Chứng sơ thiền là mình diệt cái tâm tham sân si mạn nghi. Khi mình đoạn diệt cái đó thì mình chứng thôi, và mình diệt dần dần, diệt đến đâu thì cái trạng thái Sơ thiền nó sẽ được sung mãn dần dần, khi nó đoạn diệt sạch hết tất cả 5 triền cái: tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi thì ngay đó là nó chứng được Sơ thiền. Đó là như vậy.

Thầy sẽ phân biệt so sánh cái này, hồi nãy mà con nói đó theo như bên đại thừa phát triển, tổ sư thiền xem cái niệm vẫn còn là chướng ngại. Cái niệm gì nó khởi ra thì các ngài xem nó là đối tượng cần phải diệt. Muốn diệt nó thì các ngài xem cái niệm này như là hoa đốm giữ hư không, như là giấc mộng, như huyễn như hoặc, không có thật. Cái ngài đưa ra cái câu tác ý này nhằm để diệt niệm vọng tưởng này, để cho không khởi niệm. Đó là cách các vị tổ như vậy. Nhưng ở bên thiền xả tâm đức Phật thì khác, bên Phật thì những niệm nó khởi ra nó là đối tượng của tri kiến.

Bạch Thầy! Trạch rõ niệm này là niệm ác, hay niệm bất thiện.

Đúng rồi! Nó rõ ràng rồi nó bắt đầu nó xả dần dần.

Ở bên thiền của Phật, Thiền Nguyên Thủy, mình còn gọi là Thiền xả tâm. Như vậy cái niệm nó khởi ra, nó là đối tượng của trí tuệ để nó phát huy sự hiểu biết về Chánh kiến, Chánh tư duy. Thí dụ bây giờ trong tâm mình vừa khởi lên niệm tham, hoặc niệm sân, si, mạn, nghi thì mình phải giác nó như thật, hoặc Chánh Niệm Tỉnh Giác. Thì trong Niệm giác chi đức Phật gọi là tùy niệm, tùy niệm thiện. Thí dụ bây giờ nó khởi lên cái niệm tham, mình biết rằng, nếu mình sống theo cái niệm tham này thì nó làm cho mình hại mình, hại người và hại chúng sinh. Khi biết như vậy, mình hướng tâm tới tác ý mình xả không hành động theo nó, để tâm mình hướng đến đoạn diệt các lậu hoặc đó.

Như vậy những chướng ngại, những ác pháp, những niệm mà nó đang sinh khởi trong tâm của mình là đối tượng nhằm để cho Niệm giác chi, Chánh tri kiến của mình nó sẽ được triển khai, nó sẽ được hiểu biết như thật. Vì vậy mà trong bài kinh Nhân quả ngài tỳ kheo Ni-ta-ba-ni-na nói, vô minh lấy cái gì làm tương đương. Ngài trả lời Vô minh lấy Minh làm tương đương. Minh ở đây chỉ cho tri kiến, trí tuệ của mình. Để cái Minh này được sáng tỏ thì nó phải soi thấu sự thật Vô Minh. Vô Minh chỉ cho thế giới của đau khổ, thế giới của tham sân si mạn nghi. Nó phải thấy ra sự thật các thế giới Vô Minh này mà nó đưa đến đoạn trừ Vô Minh. Cho nên ngài tỳ kheo Ni-ta-ba-ni-na nói Vô Minh lấy Minh làm tương đương là như vậy đó.

Cho nên đức Phật nói những niệm gì nó khởi ra mình phải biết nó như thật: đây là Khổ, đây là Nguyên nhân của Khổ, đây là Diệt khổ, đây là con đường đưa đến diệt khổ thì những cái niệm như vậy nó là Minh. Khi những cái niệm nó khởi ra mà nó có Minh thì nó trở thành Tri kiến Giải thoát. Như vậy là niệm của mình nó là đối tượng của tri kiến giải thoát. Nếu mà mình dùng 1 cái pháp nào đó để mình gom tâm, mình tác ý nhằm để nhằm diệt cái niệm vọng tưởng để cho không có khởi niệm, mình diệt niệm vọng tưởng này đồng thời mình diệt ý thức. Khi mình diệt ý thức đồng thời mình diệt luôn trí tuệ. Cái niệm mình có hoạt động nó đang sinh khởi mà trên cái niệm này nó có trí, nó có Chánh kiến, Chánh tư duy thì những cái niệm này nó trở thành TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Nhờ có Tri kiến Giải thoát, nó hiểu ra sự thật khổ và nguyên nhân khổ của cái niệm này, nó mới hướng tâm đến tác ý đoạn diệt cái gốc lậu hoặc. Cho nên chúng ta tu tập đoạn trừ các lậu hoặc là ngay chỗ cái pháp hành này.

Còn trước đây bên tổ thì khác. Bên tổ thì không cho khởi niệm. Những niệm gì nó đến là dùng pháp môn đè nó xuống, nó giống như mình lấy đá đè cỏ. Cái phương pháp của Tổ là như vậy đó. Những niệm gì khởi ra xem là huyễn giả, hoa đốm giữa hư không, như mộng như huyễn. Cách tu như vậy cũng giống như là lấy đá đè cỏ. thì tu 1 thời gian cái niệm này nó cũng vắng bạt nhưng lậu hoặc còn nguyên. Nó đâu đưa đến đoạn trừ các lậu hoặc đâu. Còn ở đây bên thiền của Phật, thiền xả tâm, vọng tưởng là đối tượng để triển khai tri kiến đưa đến đoạn trừ các lậu hoặc. Tựa như cái dục, như cái niệm này, mình đoạn dục gọi là mình ly dục ly ác pháp bằng phương pháp xả tâm như vậy thì các lậu hoặc tham sân si mạn nghi của mình mới đoạn diệt. Khi nó đoạn diệt rồi, tự tâm mình nó Định.

Bên Tổ, muốn cho tâm mình vắng bạt bằng cách diệt niệm, gọi là diệt trừ vọng tưởng để cho tâm mình nó Định, để cho tâm mình vắng lặng. Đó là phương pháp của Tổ sư thiền. Còn Thiền Xả Tâm Phật dạy mình, khi niệm gì khởi ra, mình phải định trên chánh tri kiến, mình hiểu biết như thật, rồi mình tư duy. Khi mình tư duy xong mình hướng tâm tác ý mình xả. Do mình thông suốt sự thật những lậu hoặc này, mình tác ý mình không hành động theo nó, thì những cái niệm này từ từ nó diệt. Nó diệt lâu hay mau mặc nó. Còn bên Tổ khi khởi niệm ra, tìm mọi cách để mà đè nó, không cho nó khởi niệm. Còn đằng này Phật dạy mình không đè nó, mình hiểu nó như thật, mình hiểu sự thật khổ, nguyên nhân của khổ, mình nhàm chán cái niệm này mình không hành theo nó thì cái niệm này từ từ nó diệt. Khi nó diệt thì tự nó định trên thân thôi. Khi tâm mình thanh tịnh thì tự nó định. Mình đừng có nôn nóng tác ý để cho thân mình nó định. Ở bên Tổ cứ làm sao gom tâm để cho tâm nó định, tâm nó định càng nhanh càng tốt. Còn bên Phật ngài không dạy điều đó. Quan trọng là tâm mình nó chánh niệm tỉnh giác. Trên Chánh Niệm Tỉnh Giác, nó có Chánh trí tuệ thì những chướng ngại, ác pháp, lậu hoặc nào tác động trên thân tâm này thì mình có Chánh tri kiến mình hiểu nó như thật rồi mình hướng tâm tác ý mình xả nó. Khi những cái niệm này tự nó diệt thì tâm mình tự nó định trên thân.

Bạch Thầy! Bên Tổ, là định chỗ khác. Bên Tổ là không trụ vào đâu cả, khác nhau hoàn nhau đấy ạ!

Bên Tổ thiền định vắng lặng, gọi là tâm tĩnh lặng. Các thiền sư sau này tu làm sao để mà dẫn tâm hướng tâm tới tĩnh lặng. Cho nên hiểu như vậy nó không đúng những điều Phật dạy. Khi tâm mình nó thanh tịnh thì ngài nói rằng nó phải định trên thân, gọi là Chánh niệm tỉnh giác định trên thân, hoặc đức Phật ngài dùng cái từ là Định Hiện tại lạc trú. Khi nó định, nó phải ở trên thân của nó. Còn nếu nó vắng lặng, nó không ở trên thân của nó, thì lúc này nó rớt vào không tưởng rồi. Ngài Xá-lợi-phất nói, khi ý thức thanh tịnh – chỉ cho tâm vắng lặng mà không có liên hệ đến 5 căn, thì nó sẽ sống trong không tưởng.  Như vậy rằng khi tâm mình đã ly dục ly ác pháp, nó đã thanh tịnh rồi thì sự thanh tịnh này phải ở trên thân của nó. Nếu nó ngồi nó biết hơi thở ra vô, đó là nó đang định trên thân hành nội, chỉ cho hơi thở. Nếu nó đi, đứng nằm ngồi mà nó tỉnh giác tỉnh thức trên thân, đó là nó đang định trên thân hành ngoại. Cuộc sống hàng ngày của Phật và các bậc Alahan thì các ngài an trú Chánh Niệm Tỉnh Giác định trên thân hành như vậy. Chính vì lý do đó mà đức Phật mới nói Định niệm hơi thở là Thánh trú, là Phạm trú, là Như lai trú là như vậy đó. Hàng ngày các ngài sống trên các trạng thái tâm tỉnh thức, thân hành niệm này, định niệm hơi thở này, đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác định. Thiền của Phật là như thế.

Còn bên Tổ thì tu làm sao nó trở về chỗ vô niệm, hướng đến chỗ tâm vắng lặng, không còn trụ vào 1 cái gì trên thân của nó nữa, dù là trên tâm hoặc là trên thân, hoàn toàn là vắng lặng. Khi tâm mình ở trong vắng lặng, đồng nghĩ rằng cái tâm ấy nó đang sống trong tưởng. Ngài Xá-lợi-phất nói: “khi ý thức thanh tịnh tĩnh lặng, nó không liên hệ đến 5 căn, nó sống trong trạng thái không tưởng”. Cho nên con thấy giữa Thiền Xả Tâm của Phật và Thiền của các thiền sư sau này nó không có tương ưng.

Bạch Thầy! Khi các vị thiền sư, các vị tổ sư triệt ngộ và đắc đạo các vị thường giảng bộ kinh lớn của đại thừa và thường không bao giờ các vị ấy giảng trạch kỹ lưỡng về Pháp môn Tứ niệm xứ và pháp hành 37 phẩm trợ đạo. Bởi vì các vị thiền sư coi đấy là cái phương tiện của những người sơ cơ bước đầu. Khi đã triệt tánh ngộ đạo, các ngài thường giảng những bộ kinh lớn của đại thừa, không có vị thiền sư nào giảng rõ ràng được trạng thái tâm định trên thân và tâm định trên hơi thở kỹ lưỡng như những vị thanh văn, những vị tu hành theo đường lối Nguyên Thủy, các vị thánh tăng, Alahan. Con thấy đây là sự khác biệt nhau rất rõ ràng mà người nào có tìm hiểu, có thực hành thì sẽ nhận thấy, không có gì nghi ngờ gì nữa. 

(Phật tử đánh máy lại bài giảng Pháp Hành Thất Giác Chi 1 - Thầy Thích Bảo Nguyên giảng ngày 05/07/2014 - Link bài giảng gốc: https://soundcloud.com/thichbaonguyen/phap-hanh-bay-giac-chi