Tứ Niệm Xứ là pháp cốt lõi của đạo Phật. Một thời gian ngắn như thế này, thầy không thể phân tích rộng rãi thêm, thầy chỉ phân tích cô đọng như vậy. Sau này mình tu tập thì mình dựa trên những điều thầy phân tích để mình quán ra cho nó rộng hơn. Mình càng quán rộng nhiều chừng nào thì cái phiền não, kiết sử: tham - sân - si - mạn - nghi của mình nó nhanh đoạn diệt lắm.
Phật tử hỏi: Xin thầy cho con hỏi quán thân là thế nào để con rõ ràng để
con tập, hành quán thân, thọ, tâm pháp ạ?
Thầy Bảo Nguyên trả lời:
Trong pháp Tứ Niệm Xứ, đức Phật dạy mình quán 4 chỗ Thân –
Thọ –Tâm – Pháp. Trước hết mình phải định nghĩa quán 4 chỗ thân, thọ, tâm pháp.
Quán là mình hiểu ra sự thật 4 chỗ thân, thọ, tâm, pháp.
Thí dụ như là quán thân. Khi nói đến quán thân, đức Phật chỉ
cho thân ngũ uẩn: sắc – thọ – tưởng – hành – thức. Đức Phật dùng từ: “thân này
là u nhọt, thân này là bệnh tật, thân này là người lạ, thân này là vô thường,
vô ngã, không có gì là ta, là của ta". Cái thân này khi mình còn sống, nó là thức
nhận biết, nhận thức thôi chứ nó không có thường hằng, thường còn.
Phật tử hỏi: Phật dạy mình quán nó vô thường à thầy?
Quán nó vô thường thôi. Khi mình còn sống thì mình nhận biết
mọi điều xung quanh. Khi mình mất đi, nó không còn thức, nghĩa là nó không còn ngũ
uẩn: sắc – thọ – tưởng – hành – thức thì đức Phật nói cái thân này trở thành vô tri
vô giác, như khúc gỗ vô dụng, không có nghĩa lý gì cả. Chính vì nó vô tri vô
giác, nó không còn cảm xúc, còn biết cái gì, Phật dạy rằng nó là vô ngã – không
phải là của mình. Vì khi chết, đâu còn cái gì, nó trở thành khúc gỗ, vô tri vô
giác.
Phật tử hỏi: Vô thường với Vô ngã cũng gần gần giống nhau ạ?
Vô thường là nó luôn thay đổi, chịu sinh diệt, không cố định.
Thí dụ như ngày hôm qua mình vui, hôm nay mình buồn, đó là các hành vô thường.
Hoặc lúc mình sinh ra, bây giờ mình lớn lên theo thời gian năm tháng nó thay đổi,
đó là Vô thường. Hoặc là trước đây tóc mình đen, giờ nó bạc. Đó là sự Vô thường.
Nó sinh ra rồi nó sẽ diệt, nó không trở lại ban đầu. Thí dụ lúc mình còn nhỏ,
bây giờ cái tuổi nhỏ không còn nữa, nó lớn lên. Bây giờ mình muốn trở lại ban đầu
cũng không được. Đó là sự Vô thường.
Khi nào thay đổi liên tục, đến lúc cái thân này nó hoại diệt
sạch, không còn 1 cái cảm thọ khổ vui nào trên thân này nữa. Cho nên khi nói đến
quán thân để tâm mình hướng đến sự Vô ngã là nó không còn chấp cái thân này là
tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Thí dụ trước đây mình hay chấp cái thân này
là của tôi. Ai chê mình xấu, nó buồn liền. Nhóc này xấu quá, chị này xấu quá,
cô này xấu quá. Khi người ta chê mình như vậy, trong lòng nó giận liền. Nó tự
ái, nó buồn. Đó là khổ. Vì chấp cái thân này là tôi, là của tôi. Khi người ta
nói đến, đụng chạm đến cái thân này là xấu đẹp, chê mình thì nó buồn. Vì nó chấp
cái thân này là của nó mà nó có cái nghiệp buồn khổ. Con người ta buồn khổ là
do chấp.
Vì vậy đức Phật dạy mình: Quán thân trên thân để khắc phục tham
ưu. Nghĩa là khi mình quán cái thân này là bất tịnh, là ô uế, đầy đủ những cái
bất tịnh trong cái thân này. Khi mình hiểu ra cái thân bất tịnh, ô uế, vô thường
như vậy thì tự nhiên mình nhàn chán. Người ta chê mình xấu thì mình cũng đâu có
thấy mình đẹp đâu. Mình có lớp da bên ngoài sáng bóng, mình trang điểm, mặc đồ
đẹp thì mình thấy nó đẹp, nhưng cái đẹp này chẳng qua là cái lớp da bên ngoài.
Thực chất bên trong nó đầy những cái bất tịnh. Cho nên Phật dạy mình quán bất tịnh
là như vậy.
Nào là đờm rãi, nước bọt, nước miếng, phân, nước tiêu, máu,
mủ, lông, tóc, v.v... Khi mình quán ra sự bất tịnh như vậy thì mình không còn
chấp cái thân này là đẹp nữa. Sở dĩ con người ta khổ vì người ta chấp cái đẹp,
người ta tham mình là đẹp. Dù cho người ta có xấu đi chăng nữa họ cũng nghĩ họ
đẹp. Bây giờ người ta chê họ xấu thì họ khổ liền. Chính vì vậy mà sinh ra phiền
não, vì có cái tâm chấp thân mà sinh ra phiền não.
Trong cái phần 5 xan tham, đức Phật dạy mình xan tham danh sắc.
Xan tham là cái tâm ích kỉ, mình muốn mình đẹp, mình sợ mình xấu, hoặc mình muốn
người ta khen mình đẹp. Khi mình có cái tâm muốn như vậy, cái tâm đó gọi là xan
tham danh sắc. Người nào còn sống với tâm này thì nó sẽ khổ.
Thí dụ cái thân này nó già, nó nhăn nheo, nó không còn sáng
nữa thì nó sẽ khổ. Cho nên người nào thích đẹp nhiều chừng nào thì họ sợ già lắm.
Họ mặc cảm cái thân xấu của họ. Để mà nó không xấu người ta phải dùng thuốc bôi
lên làm cho nó sáng ra, trẻ ra. Đó là cái cách người ta làm đẹp, nhưng nó cũng
chỉ là một giai đoạn ngắn thôi, rồi sự tàn phai vô thường, lão hóa của cái thân
này từ từ sẽ đến, khó tránh khỏi. Cho nên đức Phật nói:
“Già nua lại đến nơi,
Nó không chịu dừng bước,
Ai đem tâm quán chiếu,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy từ bỏ
thế lợi,
Tâm trú vào tịch tĩnh.”
Già nua lại đến nơi, nó không chịu dừng bước. Tuổi thọ con
người có giới hạn. Bây giờ đẹp, mai mốt nó già rồi nó hết đẹp thì cái điều này
là tất nhiên, không ai can ngăn được, không ai làm cho nó chậm hoặc dừng lại được.
Sự thật cái thân vô thường già nua là như vậy.
Cho nên khi đức Phật dạy mình quán cái thân này là bệnh tật,
là u nhọt, là người lạ, là vô thường, là vô ngã để mình xả cái chấp thân này, để
mình không còn khổ về thân này. Nếu lỡ mình có xấu thì mình là nó cũng bất tịnh
ô uế, đâu có gì đẹp đâu mà mình mong cho nó đẹp. Hoặc nếu cái thân này nó đẹp
thì mình nói rằng nó cũng vô thường, bên trong là bất tịnh, là ô uế, là đờm rãi,
là máu mủ, v.v… Khi mình biết ra cái sự bất tịnh, vô thường, không thật như vậy
thì cái đẹp này nó không còn chấp. Lỡ ai có chê mình xấu thì mình biết rằng nó
là như vậy rồi, bản chất nó là xấu bản chất nó là bất tịnh hôi thối đâu có gì
là đẹp đâu. Đẹp chẳng qua là mình ăn mặc chưng diện cho nó tươm tất nên mình thấy
nó đẹp, nó là cái hoàng nhoáng bên ngoài, nhưng bên trong nó cũng là bất tịnh cả.
Khi mình quán ra cái sự thật cái thân bất tịnh, vô thường, vô ngã như vậy thì
cái chấp vào đẹp xấu biến mất liền. Phiền não trên cái thân này đoạn diệt liền.
Cái đó phật gọi là quán thân trên thân để khắc phục tham ưu. Con người phiền
não, tham ưu là do chấp cái thân đẹp, hoặc chấp cái thân này là của tôi. Nếu lỡ
cái thân này nó có bệnh thì người ta chấp nó, sợ cái thân này nó chết, sơ khổ,
sợ đủ thứ hết.
Nên đức Phật dạy mình cái thân này nó là vô thường, vô ngã,
bây giờ mình còn sống thì nó còn thức, đói phải ăn, khát phải uống, bệnh phải
đau, đó là lẽ tất nhiên mà. Nhưng cái bệnh đau này, già chết này nó cũng vô thường,
đâu có gì là thường đâu. Bây giờ mình mạnh khỏe thì mai mốt nó già đi nó cũng yếu.
Khi cái thân này nó mất đi thì dù bệnh đau hay không bệnh đau đâu còn nói chuyện
gì nữa. Khi cái thân này thức nó diệt sạch, không còn ngũ uẩn: sắc – thọ – tưởng
– hành – thức thì khái niệm đẹp xấu, tốt xấu cái thân này không còn giá trị.
Cho nên khi đức Phật dạy mình quán thân trên thân để khắc phục
tham ưu, hiểu ra cái sự vô thường giả tạo như vậy thì mình không nên chấp cái
thân này thì ngay đó mình nhàm chán cái thân giả tạo vô thường, không có gì là
thường cả thì mình buông xả cái thân chấp vào cái thân này thì ngay đó phiền
não đoạn diệt. Cái đó Phật gọi là quán: quán thân trên thân để khắc phục tham
ưu. Mình nhìn cái thân này, biết cái thân này là như thế để mình xả. Nếu ai mà
tu tập cái pháp này, quả là tuyệt diệu. Người này không còn phiền não cái thân
này.
Cái phần thứ 2 là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Nói về thọ, ở đâu mình phải định nghĩa rõ chút xíu. Quán thọ trên thọ nghĩa là trên
cái thân này nó có 3 cảm thọ: thọ khổ – thọ lạc – thọ bất lạc bất khổ. Nghĩa là cái thọ này bản chất nó là vô thường,
nó không có gì là ta là của ta, nó tương đối lắm. Thí dụ hôm nay mình có bệnh
khổ đau đến với cái thân này, vài ngày sau cái thân bệnh tật này nó cũng hết,
Đó là cảm thọ nó thay đổi, nó tương đối lắm. Vì vậy trong bài kinh Tiểu vương
quả có đoạn nói rằng lạc thọ lấy khổ thọ làm tương đương, khổ thọ lấy lạc thọ
làm tương đương. Có chấp cái vui cái buồn, bây giờ mình vui thì mai mốt mình
cũng buồn. Vui đó, rồi cũng buồn đó. Buồn đó, rồi cũng vui đó. Đó là cái sự
tương đối giữa thọ lạc và thọ khổ. Nó vô thường là vậy. Cho nên Phật dạy: quán
thọ trên thọ để khắc phục tham ưu.
Trên 3 cảm thọ này bản chất nó là vô thường, không có gì là
ta là của ta, nó luôn thay đổi từng sát na, từng giờ phút, từng ngày tháng. Khi
mình quán ra cái sự thật như vậy thì tự nhiên cái tâm chấp vào cảm thọ lạc cũng
không còn. Thí dụ người ta đến khen, mình biết rằng 1 lát người ta cũng đi, đâu
còn khen, nó cũng vô thường mà. Khi biết như vậy thì mình nói thôi không nên chấp
nó, không nên mừng. Đó là quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu.
Người ta khen mình mừng, đó là cảm thọ lạc. Người ta khen
mình mình còn vui còn chấp thì mình còn tham ưu. Ở đây Phật dạy mình không chấp
nó, có lạc đến thì xả nó nhưng tâm mình không mong cầu, đó là xả lạc. Gọi là
quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Hoặc là người ta đến chê mình, xúc phạm
mình, có tâm nghe người ta chê thì mình cảm thấy khó chịu. Cái cảm giác khó chịu
Phật gọi là thọ khổ. Mình cũng quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Mình
quán rằng cái người chê mình 1 lát người ta cũng đi, nó cũng vô thường thay đổi
mà. Người này có nhân quả với mình, người ta chê mình, xúc phạm mình, đối xử không
tốt với mình. Đó là nợ nhân quả với mình. Và nhân quả này nó cũng vô thường thay
đổi, đủ duyên thì hợp hết duyên thì tan. Khi mình quán ra sự thật nhân quả thay
đổi vô thường như vậy thì cảm thọ khổ, cái tiếng người ta chê biến mất liền. Nó
không còn chấp vào cái lời người ta chê mình, chửi mừng. Cái đó Phật gọi là
quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Nó về cảm thọ khổ thì nó nhiều lắm. Thầy
chỉ đưa ra những hình ảnh, ví dụ ngắn gọn như vậy, nhưng trong cuộc sống nó nhiều
lắm.
Thí dụ khi mình ăn món ăn ngon thì sinh ra sự ưa thích. Nếu
mình đắm nhiễm, dính mắc nó thì đó là tham ưu. Phật dạy mình quán thức ăn này
là bất tịnh, bây giờ nó ngon chẳng qua là do cái vị giác nó cảm nhận thức ăn
ngon, khi vào cổ rồi thức ăn này cũng là bất tịnh. Dù bất cứ món ăn ngon nào
khi qua khỏi cổ rồi nó cũng bất tịnh. Khi mình quán ra cái sự bất tịnh vô thường
như vậy thì ngay đó mình không còn chấp vào cái ngon. Cái đó gọi là quán thọ
trên thọ để khắc phục tham ưu.
Hoặc khi mình ăn thức dở, người này nấu dở quá, tâm phiền
não, canh thì nhạt, đồ kho cũng nhạt, cơm thì nhão nhoẹt hoặc khô. Khi mình ăn
mà thức ăn, cơm nó như vậy thì cái tâm mình cảm thấy không hoan hỉ. Tâm không
hoan hỉ khởi lên tâm khó chịu: cơm thì nhão, đồ kho thì nhạt, canh thì không có
hương vị gì hết, sao mà ăn. Nên ăn mà mình than vãn như vậy, phiền não như vậy,
cái đó gọi là thọ khổ. Nó là phiền não luôn đó. Con người dễ bị cái đó lắm. Cho
nên Phật dạy mình phải quán thọ trên thọ để khắc phục tham ưu. Lỡ mình ăn thức
ăn dở thì Ngài dạy mình quán nó cũng là bất tịnh, ngon dở chẳng qua nó là vị
giác, miễn là nó đủ dinh dưỡng là được rồi, ăn để mình sống, sống để tu tập.
Khi mình quán ra sự thật dù thức ăn dở như vậy nhưng rồi nó cũng bất tịnh, mình
không nên chấp nó. Khi hiểu ra như vậy thì cái tâm phiền não thức ăn này nó tan
biến, không còn chấp vào thức ăn. Cái đó gọi là quán thọ trên thọ để khắc phục
tham ưu. Nó hiểu ra cái sự thật như vậy.
Khi mình quán ra mình hiểu ra cái thọ vô
thường, bất tịnh, không có gì là của ta thì ngay đó cái tâm mình nó nhàm chán,
dù có ngon hay dở nó không còn khen chê, cái tâm đó Phật gọi là Trung đạo. Nói
về cái trạng thái tâm trung đạo, một bên ngon cũng không chấp, một bên dở cũng không
chấp, ăn để sống, sống để tu tập, không chấp ngon dở, cái tâm đó Phật gọi là
Trung đạo. Đến đây phiền não về thọ khổ hoặc thọ lạc cũng không còn luôn.
Cái phần thứ 3: Quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Cái
tâm ở đây chỉ cho cái biết. Cái biết trong thân ngũ uẩn gồm có 6 thức: nhãn thức – nhĩ thức – tỷ thức – thiệt thức – thân thức – ý thức. Nó có 6 cái thức đó. Thức cũng là
tâm, cái biết cũng là tâm. Trong 6 thức này, nhiệm vụ nó là cái biết thôi. Nó
phân định phân biệt mọi điều khác nhau, thí dụ như nhãn thức, khi mình nhìn mọi
hình sắc, mình biết nó, mình thấy nó. Hoặc tai mình nghe tiếng, mình nhận biết
mọi tiếng gọi là thức. Hoặc mũi mình ngửi hương, lưỡi mình nếm vị, thân mình
xúc chạm, ý mình đang suy nghĩ điều thiện ác gì tốt xấu gì thì nó biết ra. Cái
đó gọi là thức. Trên 6 thức này thì mình phải quán, mình xem nó còn có phiền
não hay không. Mà phiền não thuộc về ngũ triền cái gồm có tham – sân – si – mạn
– nghi. Trên 6 thức này nó còn các triền cái: tham – sân – si – mạn – nghi nào không. Phật
gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Quán tâm là 6 cái biết: nhãn thức – nhĩ thức – tỷ thức – thiệt thức – thân thức – ý thức. Mình quán trên 6 thức đó.
Trên 6 thức này nó có triền cái tham sân si mạn nghi hay không. Cái đó gọi là
quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Nó khắc phục cái triền cái tham sân si
mạn nghi. Thí dụ thiệt thức, khi mình ăn, nếu mình tham chấp, nó thuộc triền
cái tham. Thọ lạc, mình chấp nó – gọi là tham. Nếu mình ăn dở, mình phiền não đó –
nó thuộc về thọ khổ – thuộc về triền cái sân.
Như vậy 6 thức khi mình tiếp xúc với 6 trần: sắc – thanh –
hương – vị - xúc – pháp mà nó còn sinh ra cái triền cái tham – sân – si – mạn –
nghi, cái tâm đó gọi là tham ưu. Mình khắc
phục cái tham ưu cái triền cái, chứ mình không có diệt cái thức nha. Khi
nói đến quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu, Phật dạy mình khắc phục là mình
diệt cái triền cái tham sân si mạn nghi trên 6 thức: nhãn thức – nhĩ thức – tỷ thức – thiệt thức – thân thức – ý thức.
Thí dụ mắt mình thấy sắc. Mình thấy cảnh sắc, cảnh đẹp cũng
có cảnh xấu cũng có. Trong kinh Phật dạy mình quán về cái sắc pháp, bây giờ nó
đẹp rồi nó cũng sẽ tàn, bây giờ nó xấu rồi nó cũng vô thường. Mọi cái sắc pháp
gì mình quan sát được, mình biết được nó cũng đều là sinh diệt,vô thường. Khi
hiểu ra cái sự thật như vậy, cái nhãn thức này mình không còn chấp vào nó nữa,
mình không còn ưu thích vào nó nữa. Cái đó gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục
tham ưu. Nghĩa là trên 6 thức này nó sinh ra cái tham ưu nào thì mình quán để
mình xả cái tâm triền cái.
Thí dụ trên tâm mình nó có tham ưu là đói bụng. Đói bụng thuộc
về thọ khổ. Chưa đến giờ ăn nó đói bụng. Người đói bụng dễ sinh phiền não, bực
dọc cáu gắt. Cho nên khi cái thân này nó có cảm thọ khổ đói bụng nó sinh ra phiền
não liền, nó thuộc về tâm sân đó. Cho nên trước cảm thọ khổ này thì mình có sân
phiền não thì mình quán nó: thôi cái thân này nó cũng vô thường, bây giờ nó đói
nó thèm ăn rồi, nhưng qua cái giờ đói rồi nó cũng hết. Cái thân mình là cái
thân sinh lý vật lý, khi đến giờ đó mình ăn, nếu mình ăn vào nó không có đói. Lý
do là dịch vị tiết ra a-xít để tiêu hóa thức ăn, nếu không có thức ăn nó tạo cảm
giác xót ruột. Nhưng quá thời gian đó nó không tiết ra a-xít nữa thì nó còn xót
ruột không. Cơ thể vật lý mình nó là như vậy. Ví dụ như là cái giờ chiều mình
ăn, đến cái giờ đó là nó tiết ra axit, trong bao tử nó tiết ra dịch vị a-xít để
tiêu hóa thức ăn. Khi mình không ăn cái dịch vị này làm cho mình cảm giác cồn
cào xót ruột đói bụng. Đó là cái thân vật lý bình thường. Nhưng qua giờ đó nếu
mình không ăn vào thì cái dịch vị này nó không tiết ra nữa. Khi mình không ăn nữa
thì nó không còn thèm thuồng nữa.
Cho nên cái cảm thọ khổ, xót ruột đói khát cồn cào là cái
thân vật lý, thân sinh lý bình thường của nó. Nếu mình hiểu rằng qua cái giờ đó
nó hết, thôi mình hãy hoan hỉ bằng lòng, kham nhẫn vượt qua, mình không nên phiền
não cái cảm giác đói bụng cồn cào, để mình không sinh ra cái tâm sân, gọi là
triền cái sân. Cho nên Phật gọi là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Trên
cái thân thức này, gọi là tâm, lỡ cái thân này nó xót ruột cồn cào, nó sinh ra
cái tâm phiền não – sân – phát triển thì mình quán rằng xót ruột này cũng là vô
thường. Bây giờ đến giờ nó tiết ra dịch vị a-xít, không có rồi nó cũng hết, nó
bình thường trở lại.
Khi mình quán tâm trên tâm mình hiểu ra cái tâm như vậy, cái
cảm thọ như vậy, sự vô thường như vậy thì mình xả nó không có chấp nó. Cho nên
khi mình tu tập Tứ Niệm Xứ đức Phật chúng ta từng phần quán là như vậy. Tất cả
nó chỉ nằm ở trên cái thân ngũ uẩn của mình: sắc thọ tưởng hành thức. Hoặ claf
quan tâm trên tâm để khắc phục tham ưu. Trong 6 thức nó có ý thức, ý thức là những
cái suy nghĩ của mình. Khi mình suy nghĩ thiện nó làm cho mình hạnh phúc. Khi
mình suy nghĩ ác nó làm cho mình đau khổ. Cái này nó cũng thuộc về tâm. Cái tâm
mình đang suy nghĩ chuyện vui buồn đó là cái biết thôi.
Trong thân ngũ uẩn của mình nó gồm có sắc – thọ – tưởng – hành – thức. Trong đó nó có tưởng
thức. Tưởng thức là gì? Thí dụ như là khi mình đang suy nghĩ vấn đề gì đó, mình
đang nghĩ nhớ vấn đề gì đó, khi mình vừa suy nghĩ xong thì nó lưu trữ cái điều
suy nghĩ đó vào tàng thức. Bây giờ gọi là tàng thức, còn ngày xưa Phật gọi là
thức an trú. Nghĩa là trên 6 thức: mắt tai mũi miệng thân ý, khi mình tiếp xúc với
6 trần: sắc thanh hương vị xúc pháp. Mình biết được các sắc pháp đó thì lập tức
nó lưu trữ lại trong tàng thức của ta. Bây giờ người ta dùng cái từ tàng thức,
còn thời Phật Phật dùng từ: thức an trú.
Giống như cái máy vi tính, khi mình
làm việc trên cái hệ điều hành của máy vi tính thì bộ nhớ của nó có 2 phần, bộ
nhớ RAM và bộ nhớ ROM. Bộ nhớ RAM là bộ nhớ tạm, ví dụ mình đang làm việc gì
trên máy vi tính, nó lưu giữ lại hết, nó không mất. Và khi mình làm xong mình không
có save thì những dữ liệu thông tin này sẽ mất. Còn nếu mình save mình lưu giữ
lại trong ROM ổ cứng thì dữ liệu mình nó còn. Thì như vậy bộ nhớ RAM là nhớ tạm,
chỉ cho ý thức của ta nó đang suy nghĩ vấn đề gì thì lập tức nó lưu trữ lại tạm
đó, khi nó lưu trữ lại nếu mình chấp vào cái việc đó, thí dụ mình nói với người
này mà người này không nghe thì mình giận lên. Cái ý thức của mình nó cứ chấp
chặt vào cái điều người ta nói không nghe. Khi mình chấp vào đó là nó lưu trữ lại
trong bộ nhớ ROM liền, gọi là tàng thức.
Khi nó lưu trữ lại như vậy thì thời gian mấy ngày sau nó sẽ nhớ lại cái hoàn cảnh
ngày hôm trước. Lý do là mình đã lưu trữ lại trong tàng thức thì khi có thời
gian có điều kiện cái tàng thức này nó sẽ phục vụ cho cái ý thức của ta.
Vì vậy
thỉ thoảng trong tâm mình nó cứ nhớ nghĩ những chuyện đã qua. Cái chuyện gì đã
qua mấy ngày trước đó, mấy tháng trước đó, mấy năm trước đó nó lưu trữ trong
tàng thức của mình. Khi có điều kiện, có nhân duyên thì nó tái hiện lại các
hoàn cảnh. Nếu mình vô minh, tham sân si, mình tiếp tục chấp nó nữa, mình buồn
mình giận người đó, cái tâm đó gọi là tham ưu. Lúc mình suy nghĩ chuyện đã qua
nó chỉ là thức thôi. Phật gọi là tưởng thức. Nó thu thập tất cả các thông tin
các hành động nhân quả nghiệp của mình trước đây. Nó lưu trữ lại trong tàng thức. Thỉnh thoảng nó nhớ lại những điều đó. Khi nó nhớ nếu mình không có tu, mình chấp
theo nó là mình khổ liền. Còn nếu mình biết tu thì mình quán rằng thôi nhân quả
là vô thường, người này trước đây họ xấu ác với mình, đó là nghiệp duyên nợ
nhân quả của mình, bây giờ họ không còn nữa, mình xả đi đừng có chấp. Cho nên
Phật nói quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, quá khứ đã đoạn tận,
tương lai lại chưa đến, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây, bất động không
lung lay, hãy tu tập như thế.
Nghĩa là những hoàn cảnh nhân quả xấu tốt gì đã qua thì Phật
nói nó sinh diệt vô thường không tồn tại, và những chuyện gì chưa đến thì mình
đừng ước vọng, mong muốn. Nếu mình ước vọng mong muốn thì mình khổ. Cho nên Phật
dạy: "quá khứ không truy tìm. tương lai không ước vọng". Mình cứ an trú ngay hiện
tai này. Mình biết rằng các pháp là vô thường, sinh diệt, tâm này hãy xả đi.
Thôi hãy xả không chấp nữa, không mong cầu nữa. Khi mình tác ý xả như vậy thì trong suy nghĩ, vọng tưởng của mình nó không
còn đau khổ, nó không còn triền cái: tham - sân - si - mạn - nghi tác động vào 6 thức:
nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức ý thức. Trong đó có ý thức. Dù mình có suy nghĩ chuyện tốt xấu
gì đó nhưng mình hiểu nó hết, nhân quả là vô thường, khổ vui là vô thường, đâu
có gì mà thường chấp làm gì, xả hết.
Khi mình quán tâm trên tâm mình hiểu ra cái bản chất tâm như
vậy thì lập tức mình không còn đau khổ với nó nữa. Cái đó Phật gọi là quán tâm
trên tâm để khắc phục tham ưu. Cho nên nói đến tâm là cái biết, mà cái biết chỉ
cho 6 cái biết: mắt tai mũi miệng thân ý. Trên 6 cái biết này mà nó còn cái
tham ưu, triền cái tham sân si mạn nghi nào thì ngay đó mình quán nó để mình xả
cái tham ưu này. Đó là quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu.
Phần thứ 4 là quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu. Trong quán pháp trên pháp nó cũng có 2 phần: thứ nhất Pháp chỉ chung cho tất cả pháp. Thân mình nó cũng là 1 pháp. Sắc thọ tưởng hành thức cũng là pháp. Nói về pháp thì nó chỉ chung cho tất cả. Trong đó nó có 2 pháp: pháp thiện và pháp ác. Thí dụ người này họ đến chê mình, nó là pháp ác. Người ta đến chửi mình, chê mình, nói mình đủ thứ hết, xúc phạm mình đủ thứ hết, cái đó gọi là pháp ác thì trước cái pháp ác ấy mình xem tâm mình nó có tham sân si, buồn vui, giận ghét cái điều đó không. Nếu nó có thì mình quán pháp để mình xả nó. Quán pháp thuộc về những pháp của Phật dạy: Tứ Diệu Đế: khổ - tập - diệt - đạo và các pháp hành trợ đạo.
Thí dụ Phật dạy mình quán về khổ và nguyên nhân của khổ. Người
này chửi mình là duyên nợ nhân quả của mình. Trước đây mình tạo nghiệp không tốt
với ai, mình làm cho người ta khổ, khiến bây giờ mình gặp cái hoàn cảnh xấu này
đến, người ta chửi mình. Mình quán ra cái pháp khổ, cái nguyên nhân khổ như vậy.
Khi hiểu ra như vậy thì Phật dạy mình nương vào cái pháp trợ đạo từ - bi - hỉ - xả.
Mình quán rằng thôi tâm này hãy hoan hỉ, bằng lòng, chấp nhận người ta chê
mình. Cái người chê mình họ cũng khổ lắm. Họ đang tạo cái pháp ác, mình phải biết
thương xót cái người đang chửi mình. Mình nương vào cái pháp Tứ Vô Lượng Tâm để mình xả
cái người chê mình. Khi hiểu ra nhân quả như vậy thì lòng mình hoan hỉ vui vẻ
cái gì chê mình. Cái đó Phật gọi là quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu.
Nói về pháp thì nó nhiều lắm. Ví dụ trời rét, trời nóng cũng
là pháp ác. Rét thì mình lạnh buốt khó chịu, nóng thì mình bức rức khó chịu. Nó
sinh ra cảm thọ khổ, nó cũng thuộc về pháp ác. Trước những cảm thọ khổ này thì
Phật dạy mình nương vào pháp quán vô thường, các hành vô thường, khổ, vô ngã.
Bây giờ nó lạnh, nó nóng, mai mốt nó cũng thay đổi nó hết, đâu có gì thường mà
mình chấp rồi mình nương vào cái pháp từ bi hỉ xả, mình quán về tâm hỉ - hỉ là
lòng hoan hỉ kham nhẫn vô lượng quả khổ. Mình hoan hỉ, nhẫn nhục, tùy thuận, bằng
lòng, đón nhận mọi pháp ác đến mà lòng mình không có đau khổ. Cái đó Phật gọi
là hỉ tâm vô lượng giải thoát quả khổ. Khi mình đặt niệm quán tâm hỉ như thế
thì cái pháp ác, cái pháp đem đến sự khổ cho ta nó không còn chi phối vào tâm
ta. Dù cho trời có lạnh mình cũng hoan hỉ, kham nhẫn, bằng lòng, không có buồn
khổ. Hoặc trời có rét chăng nữa mình cũng kham nhẫn bằng lòng không buồn khổ.
Cái đó Phật gọi là quán pháp trên pháp để khắc phục tham ưu.
Nói về cái pháp ác nó nhiều lắm. Nên mình cứ quan sát, mình
biết rõ. Ví dụ như trong gia đình chúng ta nó nhiều pháp ác lắm. Tại vì người
thân mình cũng là 1 người bình thường, họ đâu phải là thánh là Phật, lúc nào
cũng đối xử với mình chuẩn mực đạo đức đâu. Họ cũng đang sống trong nhân quả vô
minh nghiệp lực của họ. Đôi lúc họ cũng phiền não. buồn vui. giận ghét, cũng giận
mình, cũng chê mình, cũng trách mình. Trước những cái pháp ác thì mình quán tâm từ, tâm
bi, tâm hỉ, tâm xả. Từ là lòng thương yêu mọi người. Dù người ta có xấu như thế
nào thì mình phải biết thương họ, thương xót cho cái điều không tốt của họ. Thứ ba mình hoan hỉ bằng lòng chấp nhận cái điều không may. Cái người quán pháp trên
pháp để khắc phục tham ưu là họ sẵn sàng đối diện mọi quả khổ đến. Cái khổ nào
đến thì họ cứ quán pháp thôi. Bất cứ cái khổ nào đến họ cứ nương vào chánh pháp
của Phật Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và các pháp hành trợ đạo. Nương vào các pháp
trợ đạo này để khắc phục những hoàn cảnh nhân quả không tốt đến với ta. Mình cứ
tư duy, mình như lý tác ý, mình cứ quán như vậy thì cái tâm mình ngay đó là mọi
phiền não từ từ cũng đoạn diệt. Cái đó Phật gọi là quán pháp trên pháp để khắc
phục tham ưu là như vậy.
Cho nên khi mình quán pháp là như thế nha. Có 2 phần pháp chỉ
chung cho tất cả các pháp: pháp ác và pháp thiện. Đa phần pháp ác thì nhiều,
sinh ra phiền não thì nhiều. Mình nương vào chánh pháp của Phật để mình đoạn diệt
phiền não trong thân tâm của chúng ta. Đó là tu tập Tứ Niệm Xứ, quán thân, thọ, tâm, pháp để khắc phục tham ưu. Tham ưu là những triền cái sinh ra khổ và lạc.
Khi mình nương vào các pháp quán của Phật để mình đoạn trừ, để mình lìa xa mọi
cái tham ưu, triền cái: tham sân si mạn nghi thì ngay đó tâm mình chứng đạt được
vô lậu, Niết bàn, chứng được quả Bất hoàn: nghĩa là nó đoạn diệt được 5 hạ phần
kiết sử: thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham và sân. Người tu tập Tứ Niệm
Xứ, họ quán 4 chỗ thân, thọ, tâm, pháp như vậy thì 5 kiết sử trói buộc sinh ra phiền
não tham ưu gồm có thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham và sân ngay đó là
đoạn diệt sạch người này chứng được quả bất hoàn, gọi là quả bất lai. Người chứng
được quả bất lai thì đức Phật nói rằng ngay hiện tại cuộc sống của họ họ đã hóa
sanh vào Niết bàn. Họ sẽ chứng được hữu dư y niết bàn ngay tức thời liền. Người
này không còn sinh tử luân hồi ngay giây phút hiện tại dù họ đang còn sống.
Cho nên người nào tu tập 4 niệm xứ này 1 cách chuyên chú, một
cách miên mật cụ thể rõ ràng như vậy thì sẽ khiến cho các tham ưu, các kiết sử:
thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham và sân từ từ đoạn diệt sạch hết thì
người này chứng được quả Bất lai, chấm dứt mọi phiền não, đau khổ, không còn
sinh tử luân hồi là như vậy.
Hôm nay thầy giúp cho con hiểu về tu tập 4 niệm xứ, quán
thân thọ tâm pháp là như vậy nha!
Tứ Niệm Xứ là pháp cốt lõi của đạo Phật. Một thời gian ngắn
như thế này, thầy không thể phân tích rộng rãi thêm, thầy chỉ phân tích cô đọng
như vậy. Sau này mình tu tập thì mình dựa trên những điều thầy phân tích để
mình quán ra cho nó rộng hơn. Mình càng quán rộng nhiều chừng nào thì cái phiền
não, kiết sử: tham sân si mạn nghi của mình nó nhanh đoạn diệt lắm. Thí dụ như
trong phần quán thân: quán thân bất tịnh, quán thân vô thường, nó nhàm chán hết
thì cái thân kiến làm gì còn. Cái thân kiến là chấp cái thân này là đẹp, chấp
thân này là tốt, đâu còn nữa, ngay đó là thân kiến đoạn diệt. Khi thân kiến đoạn
diệt, cái phiền não đẹp xấu nó không còn khái niệm gì cả. Ai có chê mình xấu
chăng nữa nó không phiền não vì nó biết rằng thân này là bất tịnh, vô thường, lấy
gì mà phiền não đẹp xấu. Thân kiến đoạn diệt ngay liền là như vậy.
(Phật tử đánh máy lại bài giảng Quán Tu Tứ Niệm Xứ của thầy Thích Bảo Nguyên - Giảng ngày 15/10/2017 tại Núi Thị Vải - Huyện Tân Thành - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)